Bốn giai đoạn của phong trào xã hội- (Phần 3/3): Các kiểu thoái trào

Cuối cùng, giai đoạn cuối trong vòng đời của phong trào xã hội là thoái trào, hoặc “thể chế hoá”. Mặc dù vậy, “thoái trào” không nhất thiết có nghĩa là thất bại đối với các phong trào xã hội. Thay vào đó, Miller (1999) lập luận rằng có bốn kiểu thoái trào mà phong trào xã hội có thể trải qua:

– Bị đàn áp,

– Bị sáp nhập,

– Thành công, và

– Thất bại,

– Nhiều người khác đã bổ sung thêm “xác lập được tính cách chính thống” như một kiểu thoái trào khác (Macionis, 2001).

Biểu tình chống Trung Quốc, 2012. Nguồn ảnh: BBC Việt Ngữ

Bị đàn áp

Kiểu thứ nhất mà phong trào xã hội có thể thoái trào là qua sự đàn áp. Đàn áp xảy ra khi nhà cầm quyền, hoặc các cơ quan thay mặt nhà cầm quyền, sử dụng các biện pháp (đôi khi bạo lực) để kiểm soát hoặc phá hoại một phong trào xã hội. Ngoài ra, Miller (1999) còn nêu rõ “các hành động đàn áp có thể được nhà nước quy định là hợp pháp… nhưng chúng không bao giờ là hợp pháp theo quan điểm của phong trào” (trang 305).

Điều này có nghĩa là chính quyền trong nhiều trường hợp sẽ thông qua các đạo luật cấm các hoạt động phong trào hoặc các tổ chức nào đó, hoặc biện hộ cho hành động đàn áp bằng cách tuyên bố rằng phong trào đe dọa trật tự công cộng theo cách nào đó. Loại đàn áp này tạo ra vô vàn khó khăn cho các phong trào xã hội khi tiến hành các hoạt động và tìm kiếm thành viên mới.

Rất nhiều các hoạt động và phong trào xã hội tại Việt Nam đã bị đàn áp gần đây, như các vụ biểu tình chống chặt cây xanh, biểu tình phản đối ô nhiễm môi trường do nhà máy Formosa gây ra. Nhiều nhà hoạt động tích cực của các phong trào bị quấy rối, đánh đập thậm chí là bị bỏ tù.

Bị chệch hướng hoặc biến chất

Phong trào cũng có thể suy thoái, nếu các tổ chức của họ phụ thuộc nhiều vào quyền lực tập trung hoặc vào một nhà lãnh đạo có sức lôi cuốn. Việc này xảy ra khi các lãnh đạo phong trào hợp tác với nhà cầm quyền hoặc với các đối tượng mà phong trào nhằm đến nhiều hơn gắn kết với nội bộ quần chúng ủng hộ phong trào.

Ví dụ, một nhà lãnh đạo có thể nhận được đề nghị làm việc cho chính cái tổ chức vốn là đối tượng của phong trào, với lời mời mọc là anh ta/ cô ta có thể làm thay đổi mọi thứ từ bên trong. Thay vì thế, họ lại tự hòa nhập vào tổ chức và chấp nhận các giá trị của nó, chứ không phải là các giá trị của phong trào xã hội nữa. Những người lãnh đạo cũng có thể được nhà cầm quyền (hoặc nhóm đối tượng) trả tiền để đổi lại, đề nghị họ thay đổi các hoạt động của mình.

Thành công

Dĩ nhiên không phải tất cả các phong trào xã hội đều kết thúc thất bại do bị đàn áp hoặc bị chệch hướng; một số thoái trào vì chúng thành công. Các phong trào nhỏ hơn, có tính địa phương với các mục tiêu rất cụ thể thường có cơ may hơn để hoàn toàn thành công. Miller (1999) lấy ví dụ về một khu vực nọ tổ chức ngăn chặn việc xây dựng sân bay. Ông cũng nói rằng phong trào đòi quyền bầu cử của phụ nữ là một tổ chức có phạm vi quốc gia, đã đạt được các mục tiêu của mình và do đó đã thoái trào. Cả hai ví dụ này đều nhằm chỉ ra những mục tiêu rất cụ thể cho các phong trào. Nhiều phong trào xã hội có các mục tiêu ít rõ ràng hơn thế nhiều, và nhiều phong trào tiến hành các chiến dịch mới sau khi các phong trào khác đang kết thúc trong thành công hoặc trong sự thỏa hiệp.

Miller (1999) cho rằng đây là điều đã xảy ra với tổ chức Sinh viên vì một Xã hội Dân chủ (Students for a Democratic Society – SDS), một tổ chức của sinh viên nổi lên vào đầu những năm 1960 và đại diện cho phần lớn ý thức hệ của các phong trào sinh viên và thanh niên đang nổi lên hồi đó. Đó là một trong những tổ chức thanh niên lớn nhất đã tổ chức ra các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam và ủng hộ dân chủ hóa trường học. Nhiều thành viên của nó đã tham gia vào các cuộc đấu tranh vì Dân Quyền đầu những năm 1960 và chịu ảnh hưởng bởi cuộc đấu tranh đó (McAdam, 1988, Miller, 1999). Miller lập luận rằng việc liên tục mở rộng định nghĩa về sự thành công và sự cực đoan hoá của các thành viên SDS đã dẫn đến kết cục chính phong trào bị suy thoái. Ông cho rằng sự tăng trưởng và mở rộng nhanh chóng của SDS đã dẫn tới những thay đổi về định hướng này. Sau đó ông lập luận rằng, thành công lại chính là một phần trong kết cục suy thoái của họ.

Một ví dụ về một nhóm chuyển hướng tới các mục tiêu mới sau khi đạt được các mục tiêu cũ là tổ chức March of Dimes (một tổ chức từ thiện quyên góp tiền cho trẻ em, nhất là những trẻ khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần nghiêm trọng ). March of Dimes được lập ra vào cuối những năm 1930, ban đầu là một phong trào nhằm nâng cao nhận thức và hoạt động nhằm chữa trị bệnh bại liệt. Dù vậy, sau khi một vắc-xin phòng chống bại liệt được phát triển vào cuối những năm 1950, phong trào này đã chuyển hướng sang ủng hộ các mục tiêu mang tính tổng thể hơn, như ngăn ngừa dị tật bẩm sinh, đẻ non và tử vong ở trẻ sơ sinh.

Thất bại

Trong bài phân tích về sự suy thoái của tổ chức Sinh viên vì một Xã hội Dân chủ-SDS của mình, Miller (1999) chú thích rằng SDS suy thoái vì nhiều lý do như nêu trên, nhưng ông cũng lý luận rằng tổ chức này không thể xử lý được sự mở rộng nhanh chóng vì thành công của nó và do gánh nặng về tổ chức, nó sụp đổ thành các phe nhóm khác nhau. Sự thất bại của các phong trào xã hội do phá sản về chiến lược hoặc tổ chức là chuyện phổ biến đối với nhiều tổ chức. Khi xuất hiện thất bại ở mức độ tổ chức, Miller cho rằng thường có hai lý do: chủ nghĩa bè phái và tự cô lập.

Khi tổ chức Sinh viên vì một Xã hội Dân chủ-SDS lớn mạnh, và một phần do cấu trúc mở của nó, trong đó mọi người được khuyến khích tham gia vào quá trình ra quyết định, tổ chức này bắt đầu bị kiểm soát bởi các phe nhóm khác nhau hoạt động trong phạm vi tổ chức nhưng lại vì lợi ích của các tổ chức bên ngoài – với trường hợp SDS thì SDS đã đối phó với sức mạnh đang gia tăng của phái Đảng Lao Động Cấp Tiến (Progressive Labor Party). Khi chủ nghĩa bè phái trở nên tồi tệ hơn và đàn áp tiếp tục, Miller lý luận rằng các phe nhóm ngày càng trở nên hẹp hòi, dẫn đến hiện tượng tự cô lập. Đây là quá trình trong đó một đội ngũ các nhà hoạt động bị cô lập khỏi phong trào rộng lớn hơn vì họ đi tới chỗ chia sẻ nhiều thói quen và văn hoá giống nhau, và ý thức hệ của họ trở nên tương tự nhau và đồng thời cứng nhắc hơn. Họ trở nên gắn kết với phong trào đến nỗi không thông cảm được với những người không coi phong trào là yếu tố chủ đạo trong cuộc sống của họ. Tương tự như vậy, các thành viên tiềm năng cũng thấy thật khó gia nhập vào nhóm người đã gắn bó khăng khít với nhau này (Miller, 1999).

Xác lập được tư cách chính thống

Những người khác đã lưu ý rằng có một lý do thứ năm cho sự thoái trào, chủ yếu là việc một tổ chức được xác lập một cách chính thống. Có nghĩa là, các mục tiêu hoặc ý thức hệ của phong trào được chính thống chấp thuận và không còn nhu cầu duy trì một phong trào nữa. Ví dụ là phong trào lao động ở Mỹ. Trong nhiều năm, phong trào lao động này bị nhà cầm quyền đàn áp dã man, nhưng ngày nay phong trào lao động Mỹ đã hoà nhập vào hệ thống kinh tế và chính trị. Quyền đàm phán tập thể được bảo đảm bởi chính quyền liên bang (trong hầu hết các trường hợp) và phong trào lao động tạo được cơ sở vững chắc trong hệ thống chính trị (Macionis, 2001).

Các ứng dụng

Các nhà lãnh đạo và thành viên tiềm năng của phong trào tiềm năng, có thể áp dụng bốn giai đoạn để đánh giá các chiến lược của một phong trào xã hội cụ thể, và để xem chúng có hiệu quả hay không. Ví dụ, các phong trào đang trong giai đoạn hợp nhất có thể cho phép dự đoán được nhu cầu tiến tới mức phát triển tiếp theo – hành chính hóa – và có thể vận hành tương ứng để nâng cao sức mạnh và ảnh hưởng của chúng. Hơn nữa, việc xem xét kỹ lưỡng các phương thức thoái trào của chúng có thể giúp các phong trào này tránh được kết cục bị chệch hướng và thất bại, và sẽ định vị mình tốt hơn để thành công.

Bốn giai đoạn phát triển phong trào xã hội cũng có thể giúp chúng ta hiểu được những cách thức mà các phong trào xã hội gây ảnh hưởng đến xã hội. Bằng cách phân tích các phong trào xã hội xuất hiện tại các thời điểm và giai đoạn nào đó, các nhà xã hội học có thể hiểu sâu hơn về sự vận hành của xã hội và những thay đổi mà nó trải qua – một phần cơ bản trong công việc của các nhà xã hội học. Ví dụ, việc xem xét các giai đoạn xuất hiện và hợp nhất trong Phong trào Dân Quyền Mỹ cho ta một cách quan sát xem xã hội thay đổi như thế nào khi có phong trào xã hội. Ngoài ra, chúng ta có thể hiểu rõ hơn các sự kiện xảy ra trong các giai đoạn khác nhau của phong trào xã hội khi nhìn lại chúng như là một phần của cả một quá trình hoặc một sự thay đổi chứ không phải là các sự kiện riêng lẻ.

Phong trào xã hội vẫn đang tiếp tục là một lực lượng lớn trên thế giới. Các nhà xã hội học đã đưa ra những phân tích quan trọng về các phong trào xã hội, giúp chúng ta hiểu được xã hội cả trong quá khứ và ở hiện tại, cũng như dự đoán về các thay đổi và xu hướng có thể diễn ra sau này. Khi các phong trào mới phát triển, họ có thể học hỏi được từ việc nghiên cứu các kinh nghiệm của các phong trào trước đó để chuẩn bị tốt hơn cho các khả năng sau này. Mô hình phân tích này – được nêu ra trong lý thuyết về bốn giai đoạn của phong trào xã hội – là một khía cạnh quan trọng trong việc tăng cường hiểu biết về hành động tập thể. Việc nghiên cứu bốn giai đoạn của phong trào xã hội là một cách để hiểu được các phong trào xã hội hình thành, phát triển, củng cố và suy thoái như thế nào.

Danh mục tham khảo

Boren, M. E. (2001). Student resistance: A history of the unruly subject (Lịch sử của một đối tượng / chủ thể bất kham). New York: Routledge.

Churchill, W. & Wall, J. V. (1990). The COINTELPRO papers: Documents from the FBI’s secret wars against domestic dissent, (Hồ sơ từ các cuộc chiến bí mật của FBI chống bất đồng trong nước) Boston: South End Press.

De la Porta, D. & Diani, M. (2006). Social movements: An introduction (Phong trào xã hội: Nhập môn) (2nd Ed). Malden MA: Blackwell Publishing.

Freeman, J. & Johnson, V. (1999) Waves of protest: Social movements since the sixties (Làn sóng phản đối: Các phong trào xã hội thập niên 1960.). Lanham, Maryland: Rowman & Littlefield.

Giugni, M. (1999). How social movements matter: Past research, present problems, future Developments (Phong trào xã hội quan trọng thế nào: Nghiên cứu quá khứ, các vấn đề hiện tại, phát triển tương lai). In Giugni, M., McAdam, D., & Tilly, C. (Ed.). How social movements matter. (pp. xiii-xxxii). Minneapolis: University of Minnesota Press.

Hopper, R. D. (1950). The revolutionary process: A frame of reference for the study of revolutionary movements (Tiến trình cách mạng: Khung tham khảo để nghiên cứu các phong trào cách mạng). Social Forces 28 (3), 270-280. Retrieved May 12, 2008 from EBSCO Online Database SocINDEX http://search.ebscohost.com/login.aspx?direct=tr ue&db=sih&AN=13582480&site=ehost-live

Inglehart, R. (1990). Values, ideology, and cognitive mobilization in new social movements (Giá trị, hệ tư tưởng, và huy động nhận thức trong các phong trào xã hội mới). In R. J. Dalton & M. Keuchler (Eds.), Challenging the political order: New social and political movements in western democracies (pp. 43-66). New York: Oxford University Press.

Macionis, J. J. (2001) Sociology (Xã hội học) (8th ed). Upper Saddle River, New Jersey: Prentice Hall.

McAdam, D. (1988). Freedom summer (Mùa hè Tự do) . New York: Oxford University Press.

Melluci, A. (1995). The process of collective identity (Hành động tính chất tập thể). In H. Johnston & B. Klandermans (Eds.), Social movements and culture (pp. 41-63). Minneapolis, Minnesota: University of Minnesota Press.

Miller, F. D. (1999). The end of SDS and the emergence of weatherman: Demise through success (Sự kết thúc của SDS và sự xuất hiện của người đọc bản tin thời tiết: Sự tàn phá qua thành công.). In J. Freeman & V. Johnson, (Eds.), Waves of protest: Social movements since the Sixties (pp. 303-324). Lanham, Maryland: Rowman & Littlefield Publishers.

Sawyers, T. M. & Meyers, D. M. (1999). Missed opportunities: Social movement abeyance and public policy (Các cơ hội bị bỏ lỡ: Đình chỉ phong trào xã hội và chính sách công). Social Problems 46 (2). 187-206.

Taylor, V. (1989). Social movement continuity: The women’s movement in abeyance (Tính liên tục của phong trào xã hội: Phong trào phụ nữ bị đình chỉ). American Sociological Review, 89 (54) p. 761-775, Retrieved May 10, 200 8from EBSCO Online Database Academic Search Premier.http://search.ebscohost.com/login.aspx?direct=true&db=aph&AN=15471353&site=ehost-live

Sách nên đọc

Blumer, H. (1969). Collective behavior (Hành vi tập thể). In Lee A.M., (Ed.), Principles of sociology (3rd Ed.). New York: Barnes and Noble Books.

Fréchet, G &Wörndl, B. (1993). The ecological movements in the light of social movements’ development (Các phong trào sinh thái dưới ánh sáng của sự phát triển các phong trào xã hội). International Journal of Comparative Sociology 34 (1/2), 56-74. Retrieved May 14, 2008, from EBSCO online database Academic Search Premier http://search. ebscohost.com/login.aspx?direct=true&db=aph&AN=9409010103&site=ehost-live

Kimmel, M. S. (1983). Outbreaks: The sociology of collective behavior (Sự bùng phát: Xã hội học về hành vi tập thể). Social movements: Development, participation, and dynamics. [Book review]. Contemporary Sociology 12(3) p. 313-314. Retrieved May 14, 2008, from EBSCO online database Academic Search Premierhttp://search.ebscohost.com/login.aspx?direct=true&db=aph&AN=13 354631&site=ehost-live

Tilly, C. (1978). From mobilization to revolution (Từ huy động đến cách mạng). Reading, MA: Addison Wesley.

Nguồn ảnh bìa: Bookhunter

Phần 1: Bốn giai đoạn của các phong trào xã hội: Xuất hiện phong trào xã hội

Phần 2: Bốn giai đoạn của phong trào xã hội : Hợp nhất và hành chính hóa

Comments

comments