Bức tranh toàn cảnh về Hoạt động xã hội bạn không thể không biết- (P3)

Yếu tố lãnh đạo

Người lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong các nhóm hoặc phong trào hoạt động. Họ có thể đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau như người đại diện, người phát ngôn, hình mẫu cho người khác noi theo, chiến lược gia, lý thuyết gia.

Một số nhà hoạt động ở vai trò lãnh đạo đã trở nên nổi tiếng. Có lẽ hai nhà hoạt động nổi tiếng nhất trong thế kỉ 20 mà không trở thành nguyên thủ quốc gia là Mohandas Gandhi, lãnh tụ phong trào độc lập của Ấn Độ từ 1915 đến khi giành độc lập năm 1947 và mục sư  Martin Luther King, lãnh đạo của phong trào dân quyền của Mỹ từ  năm 1950 cho đến khi ông qua đời năm 1968. Nhưng ít có nhà hoạt động ở vai trò lãnh đạo nào lại có được sự nổi tiếng so với các tổng thống, thủ tướng hoặc các nhà độc tài.

Người lãnh đạo phong trào hoạt động đóng vai trò rất quan trọng cả đối với bên trong và bên ngoài tổ chức. Đối với công chúng bên ngoài, họ là biểu tượng của mối quan tâm xã hội. Do vị trí chính thức của họ trong một tổ chức, họ nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới truyền thông. Bên trong phòng trào, uy tín và sức hấp dẫn của nhà lãnh đạo có thể thu hút và giữ chân các thành viên và liên kết một nhóm chặt chẽ. Một nhà lãnh đạo sáng suốt có thể đưa ra hướng dẫn về chiến lược và quản lý các động lực và sự liên đới bên trong tổ chức.

Nhà lãnh đạo của phong trào hoạt động cũng thường phải chịu sự công kích từ phía đối phương: làm mất uy tín của lãnh đạo là cách để làm mất uy tín của toàn bộ phong trào.

Lãnh đạo cũng có thể là nguồn gây ra căng thằng trong phong trào. Một số lãnh đạo theo đuổi nghị trình của riêng mình, xung đột với nguyện vọng của các thành viên. Các lãnh đạo có thể bị chiêu dụ để hợp tác với đối phương, ví dụ khi được đề nghị trao cho một vị trí trong chính quyền hoặc trong ngành công nghiệp vốn đang là đối tượng đấu tranh của phong trào.

Nghiên cứu về lãnh đạo/ lãnh tụ là một cách khởi đầu hiệu quả để tìm hiểu về một phong trào.

Tuy nhiên, nếu quá tập trung vào người lãnh đạo sẽ có thể gây ra các ngộ nhận, bởi vì hầu hết các phong trào hoạt động đều mang tính tập thể. Người lãnh đạo không thể tồn tại mà không có sự cống hiến thầm lặng của hàng trăm các nhà hoạt động bình thường khác.

Thêm nữa, trong một số nhóm và phong trào, có một ý thức cam kết chia sẻ quyền lực và chống việc phân thứ bậc. Những nhóm như vậy có thể sử dụng phương pháp ra quyết định dựa trên đồng thuận và khuyến khích mọi người phát triển nhiều kỹ năng đa dạng và đóng các vai trò khác nhau. Yếu tố lãnh đạo vẫn tồn tại trong những nhóm này, nhưng đó là sự lãnh đạo dựa trên cống hiến và tôn trọng, chứ không dựa trên một vai trò chính thức nào.

Nhiều bộ phận trong phong trào nữ quyền hoạt động theo cách này.  Dĩ nhiên là có một số nhà nữ quyền nổi tiếng, nhưng họ thường là các nhà văn hoặc các nhà bình luận hơn là lãnh đạo của một nhóm hoạt động.

Điều này có thể được đối chiếu với các nhóm chính trị có lãnh đạo chính thức. Ví dụ, Nelson Mandela là lãnh tụ của đảng Đại Hội Dân Tộc Phi (ANC) tại Nam Phi – một phong trào hoạt động mang tính chính trị. Sau này khi thành công, ông trở thành nguyên thủ quốc gia, chính thức bước vào hệ thống chính trị và khi đó, người ta mới trông thấy và biết đến sự hiện diện của ông nhiều hơn.

Hầu hết các phong trào hoạt động là sự kết hợp giữa tính tổ chức, cơ cấu và tính bình đẳng. Trong các tài liệu nói về các phong trào hoạt động, cần lưu ý rằng người ta thường chú ý nhiều đến cấu trúc chính thức và người lãnh đạo hơn là các nhà hoạt động bình thường (ít được biết đến) và các hoạt động diễn ra hàng ngày, sau hậu trường.

Lý thuyết

Hoạt động xã hội, tuy có tầm quan trọng trong lịch sử và những cuộc tranh đấu hàng ngày, lại nhận được tương đối ít sự chú ý của các học giả.  Phần lớn các tư liệu, sách vở về lịch sử là nói về những con người có quyền lực và nổi bật, về các hệ thống và hoạt động diễn ra chính thức như là các chính phủ, các cuộc bầu cử, quân đội và chiến tranh. Thậm chí khi sự chú ý được đặt vào một vấn đề xã hội nào đó, như là chế độ nô lệ, thì người ta chủ yếu vẫn chỉ chú ý đến các hoạt động chính thức như là tuyên bố giải phóng nô lệ của tổng thống Lincoln. Trong khi phần lớn hoạt động tranh đấu của các các cá nhân và các nhóm hoạt động quy mô nhỏ lại chỉ được nhắc đến một cách tóm lược hoặc bỏ qua hoàn toàn.

Các bản tin thời sự thường đưa ra những hình ảnh méo mó về hoạt động xã hội, bằng cách hướng máy quay vào các vụ ẩu đả, bạo lực hơn là những hoạt động ôn hòa. Trong các bản tin về chủ đề Israel/Palestine, phần lớn toàn tập trung vào các vụ đánh bom tự sát nhưng lại hầu như không đề cập về biết bao hoạt động phi bạo lực đã diễn ra thường xuyên của cả người dân Israel lẫn Palestine.

Các nghiên cứu có liên quan nhất đến hoạt động xã hội là về các phong trào xã hội. Khi kể câu chuyện về các phong trào, các nhà nghiên cứu cũng xem xét các cấu trúc xã hội đã ảnh hưởng lên nguồn gốc và sự tồn tại của nó, các nguồn lực mà phong trào có thể sử dụng, các thời cơ chính trị mà phong trào xã hội có thể tận dụng, và các hệ thống ý nghĩa đã cho phép các thông điệp của họ lan tỏa. Tuy nhiên, không nhiều các nghiên cứu trong số đó nói được nhiều về những việc các nhà hoạt động đã làm và họ có thể làm thế nào cho tốt hơn. Ít có nhà hoạt động nào chú ý tới các nghiên cứu về phong trào xã hội bởi vì những nghiên cứu đó rất ít khi hướng về các mối quan tâm thực tiễn của họ. Thêm vào đó, hầu hết các nghiên cứu của giới học thuật đều được viết bằng thứ văn phong không mấy hấp dẫn đối với các nhà hoạt động.

Thứ mà có liên quan gần gũi hơn đối với các nhà hoạt động chính là những tài liệu hướng dẫn đưa ra lời khuyên về việc gây dựng, tổ chức phong trào cộng đồng, phân tích cấu trúc quyền lực, xung lực nhóm, quá trình ra quyết định, gây quỹ và giải quyết xung đột. Một ví dụ là cuốn Resource Manual for a Living Revolution (Cẩm nang về các nguồn lực cho một cuộc cách mạng) của tác giả Virginia Coover – đã được sử dụng rộng rãi để đào tạo về hành động phi bạo lực ở một số quốc gia.

Nhiều nhà hoạt động tìm hiểu về các vấn đề – toàn cầu hóa về kinh tế, kỹ thuật di truyền, hoặc bất cứ điều gì – theo một phương thức tương tự như phương pháp giảng dạy của chuyên gia đào tạo cho đối tượng ở cấp cơ sở/địa phương – Paulo Freire về kỹ năng đọc và viết thông qua những ngôn từ được chính trị hóa. Các nhà hoạt động có thể học hỏi hết sức mình về các vấn đề liên quan, để từ đó họ có thể hành động hiệu quả và mặt khác, họ hành động chính là vì những gì đã học hỏi được về các vấn đề.

Các nhà hoạt động có xu hướng dựa vào, khai thác bất cứ thông tin nào hữu ích cho các mục tiêu thực tiễn trước mắt. Nếu vấn đề đó là tình trạng vô gia cư, thì họ sẽ muốn có thông tin về tình trạng tại địa phương (tại chỗ) và nên làm gì để xử lý hiệu quả vấn đề. Đồng thời, nhiều nhà hoạt động được truyền cảm hứng bởi các nhà văn, các cây viết có tài hùng biện.

Một trong những sự tương tác chủ yếu giữa giới học thuật hàn lâm và giới hoạt động là thông qua các cá nhân tham gia vào cả hai mảng đó, bao gồm cả sinh viên và các học giả. Những người này đem lại một chiếc cầu nối để mang các ý tưởng xuất phát từ giới hoạt động vào các nghiên cứu lý thuyết và ngược lại.

Quỹ đạo của nhà hoạt động:

Đi song hành với hoạt động xã hội là các cuộc tranh luận về nó. Nếu một hình thức hành động cụ thể nào đó khiến cho quá nhiều người bị cảm thấy cô lập, thì hình thức đó không đáng được thực hiện. Vì vậy, việc thuyết phục mọi người chấp nhận các hình thức hành động là một phần quan trọng để khiến việc hoạt động trở nên khả thi. Tranh luận về hoạt động diễn ra trên các phương tiện truyền thông, trong các cuộc nói chuyện hàng ngày, và đặc biệt là giữa các nhà hoạt động với nhau.

Các các nhân có thể tham gia hoặc rút ra khỏi các vai trò hoạt động bằng nhiều cách. Một vài người bắt đầu bằng cách tham dự ở mức độ thấp như là tình nguyện trông các gian hàng trên phố hoặc tham gia vào một cuộc mít-tinh công cộng, và tham gia ngày một sâu hơn qua từng năm, có thể là trở thành một người tham gia thường xuyên hoặc thậm chí nhà hoạt động toàn thời gian. Những người khác thì có thể tham gia mạnh mẽ một cách nhanh chóng nhưng sau đó bỏ cuộc bởi vì kiệt sức hoặc vì có những mối quan tâm, cam kết khác.

Rất khó để duy trì công việc hoạt động ở mức cao trong khi vừa phải hoàn thành những cam kết lớn khác, đặc biệt là chăm sóc gia đình và đi làm một công việc kiếm sống bình thường. Một số dạng hoạt động – như tham gia vào một chuyến du hành vì hòa bình hoặc tham dự một cuộc canh thức kéo dài hàng tuần lễ – là điều gần như không thể đối với những người mang nhiều trọng trách đối với gia đình hoặc công việc. Vì vậy, sinh viên và những người hưu trí thường dễ tham gia các hoạt động này hơn. Một trong những nhiệm vụ đầy thách thức của các phong trào xã hội là phải phát triển được các chiến dịch cho phép nhiều người tham gia, chứ không chỉ là những người có thể gác lại mọi trách nhiệm, cam kết khác.

Giống như cá nhân, các phong trào xã hội cũng trải qua các chu kỳ, mặc dù không có mô hình cố định. Phong trào đôi khi bắt đầu với một sự đột biến của hành động sáng tạo, khi có nhiều người tham gia, do bị cuốn hút, kích thích bởi cảm giác thay đổi và tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, sau vài năm đầu, sự nhiệt tình ban đầu có thể suy giảm, sự chú ý của truyền thông mờ dần và phong trào tỏ ra mất đà. Công việc hoạt động có thể trở thành thói quen thường nhật, giống như việc phong trào lao động năm nào cũng tổ chức diễu hành nhân dịp ngày 1/5.

Một số phong trào biến mất hoàn toàn. Một số khác thì được thể chế hoá (hành chính hóa): mục đích của chúng được sáp nhập vào các cơ chế chính thống, chẳng hạn như các dịch vụ phúc lợi hoặc các cơ quan hoạt động trong mảng tạo sự bình đẳng về cơ hội. Trong những trường hợp này, một số nhà hoạt động trước đây có thể trở thành các quan chức hàng đầu trong hệ thống. Cũng có những phong trào duy trì được mức độ hoạt động qua nhiều năm hoặc nhiều thập niên, bằng cách tiếp tục đổi mới và thu hút các thành viên mới.

Phong trào vì hòa bình đã đi theo quỹ đạo mở rộng nhanh chóng và suy giảm. Ví dụ, phong trào chống vũ khí hạt nhân đã dâng cao vào cuối thập niên 1950 và suy giảm vào đầu thập niên 1960; Sau đó trong những năm 1980 nó lại tăng rồi giảm lần nữa. Có một số nhà hoạt động chống vũ khí hạt nhân vẫn tiếp tục đấu tranh ngay cả khi phong trào đang xuống mức thấp, nhưng nói chung vẫn đi theo quỹ đạo là bùng nổ rồi xịt. Có rất ít sự thể chế hoá đối với các vấn đề đấu tranh của phong trào vì hoà bình: ví dụ như không có nhiều cơ quan phụ trách giải trừ quân bị trong chính phủ.

Ngược lại, phong trào bảo vệ môi trường đã duy trì được hoạt động ở một mức độ nhất quán, với nhiều nhóm trong phong trào đang tiếp tục thu hút thành viên và sự hỗ trợ. Các vấn đề môi trường cấp bách mà họ kết hợp khai thác có thể thay đổi theo thời gian – từ thuốc trừ sâu cho đến điện hạt nhân, rồi tới biến đổi khí hậu – nhưng mức độ tham gia của các nhà hoạt động thì không có sự thay đổi đột biến. Các chương trình nghị sự về môi trường đã và đang được thể chế hoá, thông qua các cơ quan môi trường của chính phủ và qua việc ngành công nghiệp chọn hướng phát triển thân thiện với môi trường.

Tương lai của hoạt động xã hội

Nguồn ảnh: The Odyssey Online

Có thể dự đoán một cách chắc chắn rằng các hoạt động xã hội sẽ vẫn tiếp tục, cả với các chiến dịch hiện tại lẫn phân nhánh thành các vấn đề mới cũng như sử dụng các chiến thuật mới. Hoạt động xã hội có thể suy giảm khi sự thể chế hóa diễn ra và được nhìn nhận là đã giải quyết được các vấn đề xã hội, tuy nhiên những vấn đề mới lại tiếp tục được đưa vào để thu hút sự chú ý của dư luận. Thêm vào đó, một số các vấn đề cũ có thể xuất hiện trở lại. Ví dụ, chế độ nô lệ được cho là đã bị bãi bỏ vào thế kỉ 19, nhưng rồi nó lại xảy ra ngày nay dưới nhiều hình thức mới và bởi vậy, đang có một phong trào chống lại các dạng thức hiện đại của chế độ nô lệ.

Có hai lý do quan trọng lý giải vì sao các phong trào hoạt động có thể sẽ mở rộng và phức tạp hơn. Đầu tiên, các nhà hoạt động học hỏi và được truyền cảm hứng từ nhau; thông tin có thể tiếp cận về hoạt động xã hội đang tăng mạnh, từ đó đặt nền móng cho những công việc hoạt động tiếp theo. Thứ hai là, người dân ngày càng có học vấn cao hơn và ít phục tùng quyền lực. Do vậy họ có thể đánh giá tốt hơn về tình trạng của các hệ thống, nhất là khi chúng tỏ ra có vấn đề, và sẵn sàng tự đứng ra hành động.

Các hệ thống chính trị mang tính dân chủ, đại diện ngày nay chính là kết quả của các phong trào hoạt động trong quá khứ. Nếu những hệ thống này đáp ứng đầy đủ nhu cầu của mọi người, thì chúng ta sẽ không cần tới hoạt động xã hội, nhưng khả năng này có vẻ còn rất xa vời. Có một xu hướng sẽ tiếp tục diễn ra là, nhiều hình thức/phong trào hoạt động xã hội trở thành một bộ phận của hệ thống, trong đó các phương pháp như đình công, tẩy chay, biểu tình ngồi – trở thành một quy trình chính trị thông thường. Viễn cảnh này nghe khá táo bạo, nhưng nó cũng giống như ý tưởng tổ chức bầu cử/phổ thông đầu phiếu hồi thế kỷ 18.  Nhưng kể cả khi viễn cảnh đó xảy ra, chúng ta có thể dự đoán rằng các hình thức hoạt động mới vẫn sẽ lại nảy sinh để thách thức những bất công của bất cứ hệ thống/thể chế nào đang ngự trị khi ấy.

Trích trong cuốn: Bách khoa toàn thư về hoạt động và công lý xã hội (trang 19-27)

Tác giả: Brian Martin là giáo sư danh dự tại Đại học Wollongong, Úc. Ông là tác giả của 17 cuốn sách và hàng trăm bài viết về đấu tranh phi bạo lực, các cuộc tranh luận khoa học, các vấn đề thông tin, dân chủ và các chủ đề khác. Ông là phó chủ tịch của Whistleblowers Australia và điều hành một website lớn về việc đàn áp bất đồng chính kiến.

Nguồn bài dịchHoạt động xã hội, xét trên phương diện xã hội và chính trị

Nguồn ảnh bìa: www.urbancusp.com

Đọc thêm tại đây:

Bức tranh toàn cảnh về Hoạt động xã hội bạn không thể không biết- (P1)

Bức tranh toàn cảnh về Hoạt động xã hội bạn không thể không biết- (P2)

Comments

comments