Các nhân tố chính làm nên thành công của một phong trào xã hội

Bài viết sử dụng trường hợp Phong trào Dân quyền tại Mỹ để phân tích/ Tác giả: Kathy Emery, giảng viên Khoa học chính trị tại Đại học bang San Francisco, Hoa Kỳ. 

Martin Luther King, Jr. dẫn dắt người biểu tình từ Selma tới Montgomery đấu tranh đòi quyền bầu cử cho người Mỹ gốc Phi. Bên cạnh King là John Lewis, Mục sư Jesse Douglas, James Forman và Ralph Abernathy/ Nguồn ảnh: Steve Schapiro/Corbis via Getty Images.

Một phong trào xã hội thành công đồng nghĩa với khả năng phối hợp nhiều tổ chức thành viên để tạo ra một sự dịch chuyển căn bản về cấu trúc xã hội. Để điều này xảy ra, cần phải đảm bảo được các nhân tố sau:

– Xác định vấn đề

– Nghiên cứu vấn đề

– Xây dựng các mối quan hệ cá nhân và liên kết cộng đồng

– Xây dựng nền móng

– Phát triển nhân sự lãnh đạo tại chỗ/tại địa phương

– Thành lập các liên minh

– Sử dụng các loại hình nghệ thuật một cách có chiến lược

– Sử dụng có chiến lược hình thức phản kháng trực tiếp phi bạo lực

– Học cách xử lý các mâu thuẫn trong nội bộ phong trào

– Hiện diện, lên tiếng, hành động vào đúng thời điểm lịch sử.

Xác định vấn đề:

Các sách lịch sử ngày nay có xu hướng gọi Phong trào Đòi Tự Do ở các bang miền Nam nước Mỹ một cách đơn giản là một Phong trào Dân Quyền. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, tất cả những ai tham gia vào cuộc đấu tranh đó đều gọi nó là Phong trào Tự do (Freedom Movement). Đã có những Cuộc đi xe buýt vì Tự do (Freedom Ride), Mùa hè Tự do (Freedom Summer) và các Trường học Tự do (Freedom School). Các quyền dân sự (được đi bầu cử, được ngồi ở chỗ mình muốn tại nơi công cộng) là một phương tiện để đạt tới một cứu cánh lớn hơn, đó là tự do. Tự do có nghĩa là phẩm giá (“Tôi là con người!”) – được đối xử như một con người. Hầu hết các chiến binh vì tự do đã nhìn nhận cuộc tranh đấu của họ như là một cuộc tranh đấu vì nhân quyền quốc tế, bày tỏ sự liên đới với các phong trào chống chủ nghĩa thực dân đang xảy ra đồng thời ở Châu Á và Châu Phi (giống như Mùa Xuân Ả Rập và phong trào Chiếm Đóng tại Mỹ (Occupy) là một bộ phận của một đợt thức tỉnh mới).

Những vấn đề mà các nhà tổ chức phong trào học hỏi được từ những người mà sẽ tạo động lực cho cộng đồng tham gia vào các hình thức biểu tình đa dạng chính là: vấn đề tách biệt các dịch vụ công cộng dựa trên màu da (như xe buýt), tước quyền bầu cử (chế áp cử tri), thiếu các dịch vụ giáo dục, các chính sách khủng bố do nhà nước ban hành, thất nghiệp hoặc tình trạng phải làm các công việc dưới mức năng lực. Người Mỹ gốc Phi ở miền Nam bị bóc lột thông qua sự phân phối mang tính phân biệt đối xử các khoản trợ cấp cho đồn điền, nông trại của chính quyền liên bang và bị giới địa chỉ lừa gạt về phần chia lợi tức hoa mùa của họ.

Một vấn đề nghiêm trọng khác là quá trình cơ giới hóa ngành sản xuất bông, đã đặt hàng trăm, hàng ngàn người nông dân lĩnh canh và những người lao động làm công vào cảnh thất nghiệp. Cuối cùng, vào khoảng năm 1966, hầu hết các chiến binh đấu tranh vì tự do (ít nhất cũng phải kể đến tổ chức SNCC – Ủy ban Điều phối Bất bạo động của Sinh viên) đã nhận ra rằng vấn đề ở đây là sự thiếu vắng quyền tự quyết, vì thế họ đưa ra lời kêu gọi cùng nhau hoạt động để xây dựng nên “Quyền lực của người da đen” (Black Power).

Nghiên cứu dẫn tới một sự phân tích chính xác về cấu trúc quyền lực, từ đó sử dụng được phương pháp phản kháng phi bạo lực một cách chiến lược:

Điều này cho phép các nhà tổ chức phong trào phát triển được các chiến lược hiệu quả để đạt được mục tiêu. Ví dụ: Martin Luther King đã cử Lawson tới Nashville vì họ tin rằng thành phố này chứa đựng sự kết hợp hoàn hảo của các biến số để cho ra một hành động trực tiếp phi bạo lực có hiệu quả. Qua nghiên cứu, họ phát hiện ra rằng: (1) giới mục sư da đen ủng hộ phương thức phản kháng phi bạo lực; (2) báo chí sẽ đưa tin về các hành động bất tuân dân sự của họ một cách vừa đủ để sự quan tâm của truyền thông tỏ ra hiệu quả; (3) có 4 trường đại học của người da đen và có thể huy động lực lượng từ đó; (4) có một số lượng mang tính “tới hạn” của những người chủ cửa tiệm da đen, trung lưu để cho một chiến dịch tẩy chay đạt được hiệu quả.

Sử dụng các loại hình nghệ thuật một cách chiến lược giúp truyền hi vọng, tạo gắn kết cộng đồng và lôi kéo mọi người cùng hành động.

Một biểu tượng đáng giá cả ngàn lời nói. Ca hát cũng đóng vai trò thiết yếu trong thành công của phong trào Dân Quyền ở một vài phương diện sau: (1) khi một nhóm các nhà hoạt động bị bao vây bởi cảnh sát hoặc côn đồ và bị đe dọa hành hung hoặc giết hại, thì hành động hát lên một bài ca về dân quyền có tác dụng làm xua đi nỗi sợ, cho phép các nhà hoạt động tiếp tục kiên định trong hành động phản kháng của mình. (2) Theo Bruce Hartford, việc ca hát (theo một bài hát, điệu nhạc) khi đứng trong đội hình biểu tình sẽ có tác dụng lôi kéo thêm người vào, còn nói hoặc hô khẩu hiệu nhiều sẽ chỉ đẩy người ta ra xa. Hơn nữa, mọi người thường có thể ca hát trong thời gian lâu hơn so với khi đứng hô khẩu hiệu.

Sử dụng phản kháng phi bạo lực một cách chiến lược

Hành động trực tiếp phi bạo lực đã được sử dụng một cách có chiến thuật trong phong trào Dân Quyền. Trong khi một số người như ML.King và Rustin tin vào phương thức này như một triết lý, thì phần lớn các sinh viên trẻ tuổi – những người đã sẵn lòng đặt bản thân mình vào nguy hiểm – đã làm như vậy vì tin rằng dùng bạo lực sẽ là phi thực tế, và sẽ không có tác dụng bởi vì bộ máy công quyền rõ ràng là có nhiều súng ống hơn họ. Nói như vậy có nghĩa là nhiều người trong số chính các sinh viên đã tham gia vào các hành động phi bạo lực có phối hợp cũng sẽ có phản ứng tự vệ nằm ngoài khuôn khổ của hành động phi bạo lực. Các sinh viên này đã tham gia vào phản kháng phi bạo lực bởi vì mục đích của hành động đó là để gia tăng mức độ tham gia vào phong trào. Ví dụ, mục đích của các cuộc tọa kháng ở Nashville là để lôi kéo sự tham gia của giới trung lưu da đen vào một chiến dịch tẩy chay các cửa hàng ở trung tâm thành phố, nhằm gây áp lực buộc chủ những cửa hàng đó phải hủy bỏ chính sách phân tách về chủng tộc trong dịch vụ của họ.

Để có được tính chiến lược, một hành động cần phải được thiết kế để trả lời được ít nhất là các câu hỏi sau:Nó có kịch tính hóa tình trạng bất công mà bạn muốn thay đổi không?

1. Nó có được thiết kế để giành được sự cảm thông của quần chúng không? (và bạn có nhiều nhiệm vụ đa dạng để sẵn sàng phân công cho số lượng những người mà mình kỳ vọng chiêu mộ được, những người mà sẽ muốn gia nhập khi được thấy hoặc nghe về hành động của bạn?)

2. Hành động của bạn có phải là bộ phận của một kế hoạch rộng lớn và dài hơi hơn không?

3. Bạn đã dự liệu về sự phản ứng sẽ có đối với hành động của bạn chưa? Bạn đã huấn luyện cho những người tham gia cách ứng phó bằng phi bạo lực đối với sự phản ứng đó chưa? Sự phản ứng được tiên liệu này có vị trí ra sao trong chiến lược tổng thể của bạn?

4. Các bước tiếp theo có thể là gì (tùy vào sự phản ứng nào trong số các phản ứng được dự trù đã diễn ra trong thực tế)?

Xây dựng nền móng và các liên minh

Phong trào Dân Quyền Mỹ có thể đã diễn ra trong giai đoạn 1955-1965 (hoặc 1953-73, tùy theo từng cách phân loại), nhưng những nền tảng cho một phong trào như vậy thì đã được xây dựng từ lâu trước đó. Chiến dịch chống nạn “hành quyết tự phát” (lynching) của Ida B. Wells và những người khác đã dẫn đến việc hình thành Phong trào Niagra vào năm 1905, và sau đó là Hiệp hội Quốc Gia vì Sự Thăng Tiến của Người Da Màu (NAACP) vào năm 1911. Lúc đầu, các văn phòng địa phương của NAACP chủ yếu nằm ở miền Bắc, và đến thập niên 1930, nhờ công của James Weldon Johnson, các chi nhánh ở miền Nam mới xuất hiện.

Mặc dù NAACP tham gia hành động trực tiếp chống nạn “hành quyết tự phát” (vd: cuộc Diễu hành trong thinh lặng năm 1917), quyết định tập trung sức lực để xóa bỏ án lệ Plessy v Ferguson vào thập niên 1930 đã cho phép họ hình thành một sự e dè đối với các hành động trực tiếp. Được truyền cảm hứng bởi Gandhi, Đại Hội vì sự Bình Đẳng Chủng Tộc (CORE) ra đời năm 1942 tại Chicago và sử dụng hành động trực tiếp để thách thức chính sách tách biệt chủng tộc trong lĩnh vực nhà ở. Năm 1947, sau thành công của NAACP trong phán quyết Morgan v Virginia, CORE phát động chiến dịch Chuyến Đi Hòa Giải – cuộc tập dượt cho chiến dịch Các Chuyến Xe Tự Do (1961-63) để thử phán quyết của Tòa án tối cao rằng việc chia tách chỗ ngồi dựa trên chủng tộc trên các tuyến xe buýt từ bang này tới bang khác là vi hiến. Năm 1957, Martin Luther King tổ chức Hội nghị Lãnh đạo Cơ Đốc Miền Nam (SCLC) theo cách tập trung sức lực của các hội thánh vào các hành động trực tiếp phi bạo lực dựa trên hiểu biết của ông về sự kết hợp giữa nguyên lý satyagraha (trung thành với lẽ thật) của Gandhi và niềm tin Cơ Đốc giáo của bản thân. Ở Trường Đào Tạo Highlander, ý tưởng của SNCC đã định hình và sau đó tại trường đại học Shaw, Ủy ban Điều phối Phi Bạo Lực của Sinh Viên đã được thành lập với hỗ trợ tài chính của SCLC.

Trong khi 4 phong trào lớn – NAACP, CORE, SCLC và SNCC –tạo nên nền móng cơ bản của phong trào, chúng đã được hỗ trợ bởi một số tổ chức thành viên quan trọng khác cả ở tầm quốc gia và địa phương – đó là các tổ chức tôn giáo, lao động, dân quyền, các tổ chức của giới luật sư, bác sĩ, vv. Lịch sử của Phong trào Tự Do Miền Nam chính là lịch sử của sự tương tác, phối hợp giữa các tổ chức này, nhằm hỗ trợ cho nhau (dù có nằm trong dự tính hay không). Ví dụ nổi tiếng nhất cho sự phối hợp này là chiến dịch Mùa Hè Tự Do năm 1964. Để đối phó với tình thế đặc biệt khó khăn tại Mississippi, 4 tổ chức này này đã chủ động phối hợp với nhau dưới danh nghĩa của COFO – Đại Hội Các Tổ Chức Liên Hiệp, vào năm 1962. COFO đã điều phối một số chương trình để tạo thành Dự Án Mùa Hè Mississippi 1964, còn gọi là Mùa Hè Tự Do.

Phát triển đội ngũ lãnh đạo địa phương: lãnh đạo là những người “hiểu vấn đề!”

Công việc này diễn ra theo nhiều cách. Ở đây chỉ xin mô tả 2 cách:

1. Bernice Robinson dự khóa học tại Trường Highlander Folk vào năm 1955 cùng Esau Jenkins (cả 2 đều đến từ Johns Island, bang Nam Carolina). Khi Jenkins giải thích về việc mình không thể dành chiến thắng trong các cuộc bầu cử vào ban giám hiệu của trường, mọi người trong buổi workshop bắt đầu thảo luận cách để tăng lượng người đi bầu. Điều này dẫn đến một cuộc thảo luận về việc học đọc và viết để vượt qua các bài kiểm tra về khả năng đọc/viết. Từ đó, Trường Đào Tạo Công Dân đầu tiên được thành lập. Myles Horton nói với Robinson rằng cô sẽ phải là giáo viên đầu tiên ở trường đó. Robinson, trong bộ phim You Got to Move, đã giải thích về cách mà các Trường Đào Tạo Công Dân đã sản sinh ra những người lãnh đạo địa phương – những người đóng vai trò cơ sở cho toàn bộ phong trào.

Chúng tôi sẽ đi vào các cộng đồng, mở các lớp học. Nếu trong cộng đồng đó chưa có một tổ chức cộng đồng nào, thì chúng tôi sẽ tổ chức cho lớp học đầu tiên đó thành một tổ chức sao cho chúng tôi sẽ có một sức ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng, và một quá trình học tập tiếp diễn. Họ sẽ nói “Thực ra, chúng tôi không có lãnh đạo nào trong cộng đồng này cả”. Chúng tôi lại bảo “Vậy hay là bạn đứng ra làm lãnh đạo đi”. Họ đáp “không, tôi không có tố chất lãnh đạo đâu”. Chúng tôi nói “Nhưng bạn hiểu về vấn đề. Bạn biết những gì cần phải làm để giải quyết vấn đề”…Quả thực, [Các Trường Đào Tạo Công Dân] chính là cơ sở cho toàn bộ các Phong Trào Dân Quyền…vì nhờ đó, mọi người ý thức được về thứ sức mạnh đang nằm trong chính bản thân họ, mà họ có thể dùng để làm được nhiều việc.

2. Ella Baker, khi làm việc cho NAACP trong những năm 40 và đầu thập niên 50, đã đi khắp miền Nam để làm quen với lãnh đạo các chi nhánh địa phương của NAACP. Khi SNCC quyết định đi đến Mississippi và phát động một dự án đăng ký cử tri vào năm 1962, Baker đã sẵn sàng để đưa cho Bob Moses một danh sách các nhà lãnh đạo địa phương (C.C.Bryant, Amzie Moore) để thông qua họ mà dành được sự tin tưởng của người dân địa phương. Mike Miller giải thích về tầm quan trọng của những người lãnh đạo địa phương đối với công tác tổ chức cộng đồng như sau:

Các nhà lãnh đạo được tôn trọng tại địa phương đã giới thiệu Bob Moses với các cộng đồng của họ, trong đó các dự án đăng ký cử tri đã bắt đầu, và đề nghị cộng đồng địa phương hỗ trợ tài chính cho công việc đăng ký cử tri mà Moses và các thư ký thực địa khác của SNCC đang sắp làm. Người ta có thể hỏi một người đang làm công tác của SNCC rằng “Ai đã cử bạn đến đây?” và câu trả lời là Webb Owens hoặc Amzie Moore hoặc CC Bryant hoặc bất cứ ai trong số những người được tín nhiệm tại địa phương mà đã công khai ủng hộ sự hiện diện của SNCC trong cộng đồng của họ. Trong trường hợp thiếu yếu tố chính danh ban đầu đó, thành viên SNCC phải cố gắng dành được lòng tin của những người được kính trọng tại địa phương. Thư ký thực địa của SNCC – Charles McLauren có viết một bài về những nhà tổ chức có được mời và không được mời đến – trong đó. những người không được mời phải làm những gì để gây được lòng tin, vốn là điều kiện tiên quyết để lôi kéo mọi người vào hoạt động của phong trào.

Một số nhà lãnh đạo địa phương tiêu biểu đã đóng vai trò xương sống của phong trào:

– Tại t.p. Birmingham: Fred Shuttlesworth (Phong trào Nhân quyền của người Cơ Đốc giáo tại Alabama)…

– Tại t.p. Montgomery, bang Alabama: Jo Ann Robinson (Hội đồng Chính trị của Nữ giới); E.D. Nixon, Rosa Parks, Ralph Abernathy, Martin Luther King, Jr…

– Tại t.p. Johns Island, bang Nam Carolina: Bernice Robinson, Esau Jenkins

– Nhiều quận hạt khác của bang Mississippi: Fannie Lou Hamer, Endesha Ida Mai Hollandl, Sam Block, Wazir Peacock….

– Tại thành phố Nashville, bang Tennessee: Diane Nash; James Bevel; John Lewis; Bernard Lafayette. . . .

Học cách xử lý các mâu thuẫn trong nội bộ phong trào

Mọi phong trào đều trải qua những căng thẳng và chia rẽ trong nội bộ. Các phong trào sẽ tiếp tục tiến lên khi những chia rẽ này được hóa giải. Các phong trào bị tan vỡ khi những chia rẽ này tạo ra rạn nứt. Xuyên suốt trong Phong trào Tự Do Miền Nam, các nhà lãnh đạo địa phương đã phải ứng phó với nhiều bất đồng và những khác biệt căn bản về triết lý. Đã tồn tại một sự căng thẳng thường trực giữa những người thực sự coi phi bạo lực là triết lý của mình với những người chỉ coi nó là chiến thuật. NAACP phản đối các hành động trực tiếp của SNCC và SCLC đã phải hòa giải mâu thuẫn giữa 2 tổ chức trên, các phụ nữ da đen phẫn nộ việc các phụ nữ da trắng ngủ với đàn ông da đen; đàn ông tự động cho mình chức trách lãnh đạo và mặc định rằng phụ nữ chỉ làm các việc phục vụ như pha cà phê. Những người phản đối việc đưa các tình nguyện viên da trắng tới Mississippi vào năm 1964 đã đồng ý sẽ không phá hỏng chiến dịch Mùa Hè Tự Do; đã có những thương lượng diễn ra liên tục về cách ứng phó với vấn đề đồng tính của Bayard Rustin, trong khi anh ta lại chính là một trong những chiến lược gia và nhà tổ chức xuất sắc nhất mà phong trào có. Một vấn đề chia rẽ không được kiềm chế, giải quyết hoặc giải tỏa đã góp phần đưa tới sự tàn lụi sau cùng của phong trào. Năm 1966, SNCC và nhóm Black Panthers (Báo Đen) bắt đầu kiên quyết đòi hỏi rằng các sinh viên da trắng của SDS (tổ chức Sinh Viên Vì Một Xã Hội Dân Chủ) thì hãy tổ chức trong các cộng đồng da trắng, còn các sinh viên SDS da đen thì tổ chức trong các cộng đồng da đen. Ban lãnh đạo da trắng của SDS đã không lắng nghe lời kêu gọi này. Ngày nay các chia rẽ vẫn tiếp tục có nguyên nhân ý thức hệ (xóa bỏ hay cải tổ hệ thống), tài chính (có thể đạt được bước tiến nào không trong khuôn khổ của mối quan hệ giữa nhà nước, các quỹ và các tổ chức phi lợi nhuận?), chiến thuật (cần hợp tác hay tránh hợp tác với ai), chủng tộc, giới tính..Xây dựng một phong trào quần chúng là không hề đơn giản. Giữ cho một phong trào quần chúng tồn tại gắn kết được lại càng khó khăn. Cần có sự cam kết từ đa số những người tham gia để vượt qua được những khác biệt, căng thẳng và tiến về phía trước.

Quan hệ cá nhân và xây dựng cộng đồng

Vào thập niên 1950 ở miền Nam, các thị trấn của người da đen ở 2 bang Mississippi và Alabama đã tạo ra được những người lãnh đạo địa phương có khả năng huy động cộng đồng của mình nhờ có “hoạt động chia sẻ chung” và “hệ quả cùng chịu chung” của việc chia cách chủng tộc và hệ thống đồn điền, được củng cố bởi tục lệ hành quyết tự phát kéo dài suốt nhiều thế hệ. Và một trong những nguyên nhân mà các nhà hoạt động cộng đồng đã đấu tranh nhằm chấm dứt tình trạng chia tách chủng tộc chứ KHÔNG PHẢI là đòi sự HÒA NHẬP, đó là bởi mong muốn duy trì cộng đồng đó. Họ tranh đấu để xóa bỏ sự ô nhục của chính sách chia tách chủng tộc, họ muốn quyền tự do kết hợp. Họ không tranh đấu để rời bỏ cộng đồng, từ bỏ các giá trị, văn hóa hoặc các mối quan hệ, các lợi ích chung…

Có một cảnh rất hay trong bộ phim Freedom Song, thể hiện được tính chất phức tạp của một cộng đồng. Owen, một thiếu niên đang chuẩn bị bước vào một quán ăn trưa dành cho người da trắng tại bến xe buýt trong thành phố. Nhà lãnh đạo địa phương của nhóm thanh niên NAACP (người thợ cắt tóc tên là T-bone) tóm lấy Owen và đưa cậu bé tới quán ăn trưa của người da màu, gọi cho cậu bé một cốc sữa và bảo cậu hãy bắt đầu đi lễ nhà thờ, đi cắt tóc và đợi đến đúng thời điểm để hành động – thời điểm đó sắp đến. T-bone trả tiền cho cốc sữa và bước đi. Owen miệng làu bàu, nói khi T-bone đang bước xa dần, “ông đâu phải bố tôi”. Cô phục vụ mang sữa đến cho Owen nghe thấy vậy liền nói “cậu bé à, chúng ta đều là gia đình của cháu”.

Điều kiện lịch sử thích hợp (bao gồm một chính quyền có ý thức tiến bộ)

Phong Trào Tự Do Miền Nam đã cất cánh được sau chiến dịch tẩy chay xe buýt tại thành phố Montgomery hồi những năm 1955-56 vì nó đã gặp được thời điểm thích hợp. Giai đoạn của chủ nghĩa McCarthy (chống cộng cực đoan) đã qua rồi. Phong trào chống chủ nghĩa thực dân đã công bố quyết tâm của mình tại Hội nghị Bandung 1955. Việc Kennedy thắng cử năm 1960 và cam kết của ông nhằm truyền bá “Tự do” trên khắp thế giới đã khiến cho chính quyền liên bang rất khó phản ứng trước các hành động trực tiếp như biểu tình tọa kháng và các Chuyến xe Tự Do – vốn phơi bày thói đạo đức giả của chính quyền trước dư luận thế giới. Nếu không tận dụng được sự can thiệp của chính quyền liên bang vào chính sách của các tiểu bang ở miền Nam, thì có lẽ nạn chia cách dân cư dựa trên chủng tộc (một hình thức của chủ nghĩa Apartheid) đã không thể bị bãi bỏ vào thời điểm đó. “Thời điểm lịch sử thích hợp” còn có nghĩa rằng vào lúc đó, tất cả các yếu tố khác như: nền móng cơ bản, cộng đồng và lãnh đạo địa phương – đều đã hội tụ đủ. Ví dụ, nếu không nhờ có các chi nhánh địa phương của NAACP (vốn được James Weldon Johnson lập ra hồi những năm 1930) thì SNCC đã có rất ít cơ hội để huy động được cộng đồng cho chiến dịch Mùa Hè Tự Do năm 1964.

Nguồn bài dịch: Key Components of a Successful Social Movement: Civil Rights Movement as Example

Nguồn ảnh bìa: http://laoms.org

Comments

comments