Cuộc chuyển đổi dân chủ ở Tây Ban Nha

Đây là bài dài, để bạn đọc tiện theo dõi quá trình chuyển đổi dẫn chủ, chúng tôi trình bày các môc thời gian quan trọng ở phần mở đầu:

 

04/1939: Nội chiến Tây Ban Nha kết thúc, bắt đầu chế độ độc tài của tướng Francisco Franco.

11/1975: Franco qua đời. Người kết nhiệm được Franco chỉ định, đồng thời là cháu của vị vua trước đó của đất nước, lên ngôi, với tước hiệu Vua Juan Carlos I.

03/1976: Các cuộc biểu tình lớn nổ ra ở thành phố Vitoria của vùng Xứ Basque sau khi cảnh sát bắn vào các công nhân đang đình công. Các chính đảng của phe đối lập cánh tả và ôn hòa cùng kết hợp lại để thành lập mặt trận “Phối hợp Dân chủ” (Coordinación Democrática).

07/1976: Adolfo Suárez được bổ nhiệm làm người đứng đầu chính phủ, bắt đầu các cuộc đàm phán về luật cải cách chính trị.

11/1976: Nghị viện Tây Ban Nha thông qua Luật Cải cách Chính trị, mở đường cho các cuộc bầu cử dân chủ vào tháng 6 năm 1977.

12/1976: Một cuộc trưng cầu dân ý cho thấy sự ủng hộ áp đảo của quần chúng đối với Luật Cải cách Chính trị.

Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Tây Ban Nha (PSOE) tổ chức đại hội lần thứ 27 tại Madrid và khẳng định sẽ tham gia vào các cuộc bầu cử sắp tới nhằm lập ra nghị viện mới.

01/1977: Hơn 150.000 người biểu tình ôn hòa tại Madrid sau khi một nhóm khủng bố cánh hữu ra tay sát hại một luật sư bảo vệ quyền cho người lao động trong một sự vụ được gọi là “Thảm sát Atocha”.

02/1977: Adolfo Suárez tiếp xúc với Santiago Carrillo, chủ tịch Đảng Cộng Sản Tây Ban Nha (PCE) để thảo luận về quá trình dân chủ hóa. Ông ra sắc lệnh công nhận quyền tự do kết hợp chính trị, hợp pháp hóa việc thành lập các chính đảng.

03/1977: Hợp pháp hóa quyền đình công.

04/1977: Suárez chính thức công nhận sự tồn tại hợp pháp của Đảng Cộng Sản. “Phong trào Quốc gia” (tổ chức của chế độ Franco) bị giải thể.

06/1977: Cuộc tổng tuyển cử tự do đầu tiên trong suốt 40 năm được tổ chức. Đảng UCD của Suárez thắng và giành được nhiều ghế. Nghị viện mới sẽ soạn thảo một bản hiến pháp dân chủ.

10/1977: Các thỏa ước Moncloa được ký kết, trong đó chính phủ và phe đối lập nhất trí về một chương trình cải cách kinh tế.

10/1978: Nghị viện thông qua bản hiến pháp mới.

11/1978: Phát giác âm mưu đảo chính với tên gọi “Chiến dịch Dải Ngân Hà”. Bắt giữ trung tá Antonio Tejero.

12/1978: Hiến pháp được cử tri ủng hộ một cách áp đảo trong một cuộc trưng cầu dân ý.
Nguồn ảnh:www.barcelonas.com

Tầm nhìn và động lực

Từ xưa, người ta thường nói rằng, có 2 nước Tây Ban Nha – đó là một nước Tây Ban Nha truyền thống, đạo giáo và bảo thủ; đất nước còn lại thì hiện đại, thế tục và cấp tiến. Xung đột giữa “2 quốc gia” này đã là nguồn gốc gây ra rất nhiều xáo trộn và khủng hoảng chính trị của Tây Ban Nha trong suốt chiều dài lịch sử cũng như phần lớn thế kỷ 20. Nó là nền tảng của cuộc nội chiến 1936-1939, trong đó một phe quốc gia theo tư tưởng truyền thống, thân Công giáo và ngả theo phát-xít đã nổi dậy và đánh bại một nền cộng hòa dân chủ ngắn ngủi. Kết quả này đã mở ra một thời kỳ gần 40 năm dưới ách độc tài của tướng Fracisco Franco. Sau khi Franco qua đời tháng 11 năm 1975, “đêm trường chuyên chế” kết thúc, nhưng lại đẩy đất nước vào một sự bất ổn chính trị. Triển vọng về một cuộc chuyển đổi dân chủ là rất bất định. “Mọi thứ đều được cột lại, và cột lại một cách chắc chắn” (“Todo está atado, y bien atado) – trích lời Franco, nói về nền tảng định chế mà ông ta đã dựng lên để đảm bảo rằng chế độ sẽ tồn tại được ngay cả khi không có Franco. Quân đội vẫn trung thành với Franco và chế độ của ông, do đó, là một mối đe dọa hiện hữu đối với những cải cách dân chủ. Bộ máy quản lý của chế độ gồm toàn những người theo chủ thuyết Franco, sẵn sàng kháng cự mọi thay đổi. Bóng ma của “2 nước Tây Ban Nha” và ký ức về cuộc nội chiến còn chưa xa làm dấy lên lo sợ về bạo lực và lan tỏa đi mong ước phải tránh được một cuộc huynh đệ tương tàn nữa, điều sẽ khiến đất nước bị xé nát thành từng mảnh.

Mặt khác, xã hội Tây Ban Nha cũng đã thay đổi sâu rộng trong suốt 3 thập niên tính đến thời điểm đó. Người Tây Ban Nha đã được giáo dục tốt hơn, mức sống được nâng cao một cách ngoạn mục và nhiều người dân muốn cho nước họ phải được như Tây Âu, đi kèm theo đó là các quyền tự do cá nhân và sự phồn vinh về kinh tế. Tây Ban Nha cũng có sẵn một nhóm các đoàn thể về lao động và chính trị hoạt động ngầm để vận động dân chủ. Không lâu trước đó, các quốc gia láng giềng như Bồ Đào Nha và Hy Lạp cũng đã thoát khỏi được ách độc tài. Nhiều người hy vọng rằng giờ đây sẽ đến lượt Tây Ban Nha tiếp bước.

Câu chuyện đằng sau

Cuộc chuyển đổi dân chủ của Tây Ban Nha chịu ảnh hưởng mạnh của kinh nghiệm về nền Đệ Nhị Cộng Hòa và cuộc nội chiến thứ đã chấm dứt nền cộng hòa này, cũng như những thay đổi đã diễn ra trong đất nước dưới thời Franco. Để hiểu rõ về cuộc chuyển đổi này, độc giả cần nắm được sơ qua về những giai đoạn này trong lịch sử Tây Ban Nha.

Chính phủ đang nắm quyền trong thời gian nội chiến là chính phủ Đệ Nhị Cộng Hòa (1931-1939), đại diện cho hình ảnh của một Tây Ban Nha hiện đại, thế tục và phóng khoáng. Đây là kinh nghiệm đầu tiên của Tây Ban Nha đối với dân chủ, và nền cộng hòa này, ngay từ khi ra đời, đã vấp phải sự thù dịch từ các tầng lớp trong quân đội, từ phái bảo hoàng, từ Giáo Hội Công Giáo (vốn là một lực lượng mạnh trong xã hội), cũng như từ giới địa chủ và tư bản công nghiệp giàu có. Các nhóm cực đoan cả ở phía tả và hữu đều hoạt động tích cực để gây mất ổn định cho chế độ. Một yếu tố nữa làm sâu sắc thêm sự chia rẽ chính trị, đó là hiến pháp mới năm 1931 được viết ra bởi các nhóm tả khuynh và họ đã áp đặt cương lĩnh của mình mà không chịu thỏa hiệp, và những chọn lựa về mặt thể chế của bản hiển pháp này đã châm ngòi cho tình trạng bất ổn chính trị. Sự thay đổi chính phủ thường xuyên dẫn tới việc các chính sách bị hoán đổi qua lại giữa những cải cách theo hướng tự do và những phản ứng của cánh hữu. Giọt nước làm tràn ly chính là thắng lợi trong cuộc bầu cử năm 1936 của “Mặt trận bình dân”, một liên minh các đảng cánh tả, bao gồm đảng Cộng sản. Khi những người theo chủ nghĩa xã hội cứng rắn tuyên bố sẽ tiến hành một cuộc cách mạng, các nhóm vũ trang phát-xít bắt đầu leo thang hành động, củng cố sự ủng hộ của phe bảo thủ nhằm thực hiện đảo chính. Tháng 7 năm 1936, những cuộc tấn công quân sự có phối hợp nhằm lật đổ chính phủ đã khởi đầu cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Phe nổi loạn nhận được trợ giúp đáng kể từ Đức Quốc Xã của Hitler và nước Ý Phát-xít của Mussolini. Phe cộng hòa thì chủ yếu nhận viện trợ từ Liên Xô. Sau 3 năm chiến tranh đẫm máu, chính phủ cộng hòa tuyên bố đầu hàng lực lượng Quốc Gia.

Sau khi chiến tranh kết thúc, tướng Francisco Franco, thủ lĩnh phe Quốc Gia, trở thành lãnh tụ tối cao (caudillo) của đất nước và thiết lập một chế độ độc tài bán-phát-xít. Ông tuyên bố rằng mình đã chiến đấu để “cứu Tây Ban Nha khỏi chủ nghĩa Marx bằng mọi giá”. Và cái giá đó rất khủng khiếp: hơn nửa triệu người thiệt mạng trong cuộc chiến và hàng ngàn người nữa cũng thiệt mạng vì những sự trả thù và vì hoàn cảnh khó khăn sau đó. Quyền tự do biểu đạt và tự do kết hợp bị cấm đoán và chế độ áp dụng các tư tưởng và cơ chế của chủ nghĩa phát-xít để kiểm soát đời sống chính trị-xã hội. Trong thập niên 1950, Franco chuyển sang sử dụng giới kỹ trị để điều hành nền kinh tế, tình trạng cô lập của Tây Ban Nha trên trường quốc tế dần chấm dứt và thay đổi bắt đầu diễn ra trong lòng chế độ. Trong các thập niên 60 và 70, những cải cách nhỏ giọt và thử nghiệm về tự do hóa diễn ra, nhưng vẫn trong khuôn khổ của sự đàn áp tiếp diễn.

Năm 1969, Franco bổ nhiệm hoàng tử Juan Carlos de Borbón làm người kế vị mình. Franco mong đảm bảo được sự tiếp tục tồn tại của chế độ bằng cách sử dụng tính chính danh do vị thế hoàng tộc của Juan Carlos đem lại. Juan Carlos là cháu nội của vị vua đã từng trị vì Tây Ban Nha trước đó, và đã sống dưới sự chăm sóc của Franco từ lúc 10 tuổi. Ở thời điểm Franco chết, Carlos được nhìn nhận là trung thành với Franco. Ít người dự liệu được rằng ông sẽ đong một vai trò chính yếu trong cuộc chuyển đổi dân chủ.

Mục tiêu

Cuộc chuyển hóa của Tây Ban Nha đã được dẫn dắt bởi những người mang tư tưởng cải cách trong chế độ Franco, đặc biệt là vua Juan Carlos và một vài cộng sự thân tín. Mục đích của họ là thực hiện một cuộc chuyển tiếp chính trị bằng chính những luật pháp và cơ chế của chế độ. Theo họ, cải tổ một chế độ độc tài bằng các phương tiện hợp pháp, sẽ giảm khả năng xảy ra can thiệp quân sự. Vào lúc này, đang có một mối lo ngại về việc quân đội có thể ra tay chống lại sự  thay đổi chính trị. Một cuộc chuyển hóa có nền tảng pháp lý vững chắc sẽ vừa tránh tạo ra một khoảng trống quyền lực và vừa đảm bảo cho những cải cách dân chủ có được tính chính danh của luật pháp. Một mối lo khác là sẽ xảy ra những cuộc biểu tình và đình công quy mô lớn, tạo cớ cho quân đội can thiệp để vãn hồi trật tự và đoạt lấy chính quyền. Trong tình thế mà vừa phải giữ yên được phía quân đội và những người cánh hữu vốn ủng hộ chế độ cũ, lại vừa phải thu phục được những nhóm ủng hộ cải cách dân chủ, thì cơ may tốt nhất để dân chủ hóa thành công là phải đảm bảo được rằng những cải cách chính trị được nhìn nhận là chính danh, hợp pháp và được tất cả các nhóm chủ chốt chấp nhận.

Muốn thực hiện cải cách dân chủ thông qua những luật lệ và định chế của chế độ Franco thì cần đạt được một số mục tiêu. Đầu tiên, và quan trọng nhất, cần phải thuyết phục được nghị viện của chế độ Franco bỏ phiếu tự giải tán. Mục tiêu này đã đạt được một năm sau khi Franco qua đời, cùng với việc thông qua Luật Cải cách Chính trị. Qua đó, nghị viện của chế độ Franco đã chính thức hợp pháp hóa tiến trình chuyển đổi dân chủ. Mục tiêu tiếp theo là thay đổi một số luật cụ thể để đặt nền móng cho các cuộc bầu cử nhằm chọn ra một nghị viện mới. Nghị viện cũng sẽ đóng vai trò như một Hội đồng Lập hiến và thảo ra một bản hiến pháp dân chủ mới. Nhằm đạt được mục tiêu này, một sắc lệnh được ban hành vào đầu năm 1977 đã hợp thức hóa quyền kết hợp chính trị, cho phép tự do tổ chức các đảng phái chính trị. Các sắc lệnh khác của chính phủ vào mùa xuân năm 1977 đã đặt ra các quy tắc bầu cử, cho phép sự hiện diện của Đảng Cộng Sản (khác với các hội nhóm chính trị khác, sự tồn tại của Đảng Cộng Sản vốn bị nghiêm cấm theo luật), nhìn nhận quyền tự do kết hợp của người lao động và bãi bỏ các luật về kiểm duyệt.

Mặc dù thành phần ôn hòa trong chế độ đã cố gắng cải tổ một cách thận trọng, các nhóm đòi dân chủ cũng hoài nghi về ý định của chính quyền. Biết được thái độ này, những người cải cách trong chế độ còn nhắm một mục tiêu quan trọng khác, đó là gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau với các nhóm cảnh tả. Ngay từ sớm, nhà vua đã tiến hành các cuộc tiếp xúc bí mật với một số đại diện của phe đối lập. Khi tiến trình chuyển tiếp bắt đầu vào giữa năm 1976, liên lạc giữa 2 bên được tăng cường để xây dựng lòng tin và trao đổi ý kiến về phương hướng cho tương lai. Không lâu sau khi Adolfo Suárez trở thành người đứng đầu chính phủ vào tháng 6 năm 1976, ông tổ chức một cuộc họp kín với 2 lãnh đạo đảng Công nhân Xã hội và đảm bảo với họ về cam kết của ông trong việc cải cách và hợp pháp hóa Đảng Cộng Sản. Đây là vấn đề hết sức tế nhị vì trọng tâm của cuộc nội chiến 1936-1939 chính là để chống chủ nghĩa cộng sản. Sau này, cuộc chuyển hóa ở Tây Ban Nha được gọi là một sự kết hợp giữa “cải cách theo thỏa ước và đứt gẫy theo thỏa ước” (reforma pactada / ruptura pactada) – chính là để nhắc tới những nỗ lực đối thoại và thỏa hiệp như vậy. Các sáng kiến này đã đặt nền móng cho thay đổi chính trị diễn ra với tính chính danh được công nhận rộng rãi và sự ủng hộ từ nhiều thành phần khác nhau, từ đó tăng khả năng thành công cho quá trình chuyển tiếp.

Nhân tố lãnh đạo

Bên trong chế độ

Vua Juan Carlos, người đã lên ngôi ngay sau khi Franco qua đời, được công nhận rộng rãi là “người lèo lái” cho quá trình chuyển tiếp. Nhân vật quan trọng thứ 2 là Adolfo Suárez. Tháng 7 năm 1976, vua Carlos chọn Suárez làm thủ tướng mới, từ một danh sách gồm những người được đề xuất bởi Quốc hội Tây Ban Nha. Vào 2 năm chủ chốt là 1976 và 1977, các nhân vật chịu trách nhiệm chính cho những cải cách quan trọng, cho phép cuộc chuyển tiếp diễn ra, chính là vua Carlos và thủ tướng Suárez, được sự hỗ trợ của một yếu nhân thứ 3 nữa, đó là Torcuato Fernández-Miranda, là người thầy dạy và giám hộ trước đây của nhà vua. Fernández-Miranda, vốn là một chiến lược gia xuất chúng, đã đề ra chiến lược nhằm đảm bảo rằng Quốc hội sẽ bỏ phiếu tự giải tán và tên của Suárez sẽ được bao gồm trong danh sách ứng viên cho vị trí người đứng đầu chính phủ mà Quốc hội trình lên nhà vua. Điều này giúp đảm bảo việc Suárez sẽ được chọn, mở đường cho nhà vua và Suárez làm việc chung để thúc đẩy các cải cách dân chủ.

Juan Carlos, mặc dù được Franco chọn làm người kế nhiệm, nhưng lại ủng hộ chế độ dân chủ, xuất phát từ cả niềm tin cá nhân lẫn yếu tố thực dụng. Anh rể của ông đã bị phế truất khỏi ngôi vị vua của Hy Lạp vì không chịu ủng hộ dân chủ hóa và địa vị của ông ban đầu cũng không lấy gì làm đảm bảo. Tuy nhiên, ông cũng thực lòng tin tưởng rằng Tây Ban Nha cần có một chính quyền dân chủ. Trong chuyến thăm Mỹ năm 1971, Juan Carlos tuyên bố rằng người Tây Ban Nha “muốn có nhiều tự do hơn, vấn đề là quyết định thời điểm thích hợp”. Ông cũng thừa nhận nhu cầu chuyển đổi dân chủ ngày một gia tăng từ nhiều tầng lớp xã hội Tây Ban Nha và hiểu được những lợi ích của việc đưa đất nước hội nhập vào cùng các nền dân chủ khác tại Âu Châu. Nhà vua đã đóng vai trò cốt yếu trong việc trấn an quân đội và xây dựng cầu nối giữa chế độ với phe đối lập thông qua những cuộc tiếp xúc cá nhân với một số thủ lĩnh đối lập. Giữa năm 1976, ông thậm chí còn đề nghị các lãnh đạo của đảng Xã hội (trên danh nghĩa là bị cấm hoạt động) đưa ra các ý tưởng cụ thể về việc chính phủ nên giải quyết các yêu cầu của các tổ chức công đoàn như thế nào – ở thời điểm đó cũng bị cấm hoạt động.

Adolfo Suárez là người được nhà vua chọn lựa để dẫn dắt quá trình chuyển tiếp. Theo lời nhà vua, ông là người “trẻ trung và hiện đại, có đủ tham vọng trở thành người xử lý những công việc của thời kỳ mà chúng ta đang trải qua”. Quan trọng không kém là việc Suárez là người xuất thân từ bên trong chế độ Franco và chưa được biết tới với tư cách là người có tư tưởng cải cách. Điều này đã dẹp bỏ mối nghi ngờ rằng sắp có những thay đổi cực kỳ lớn. Trên thực tế, tờ báo El País đã đưa tin về việc bổ nhiệm Suárez như là một thắng lợi cho phe bảo thủ của chế độ. Tuy nhiên, chỉ vài sau khi được bổ nhiệm, Suárez đã có một bài diễn văn được phát trên truyền hình, hứa hẹn rằng chính phủ sẽ tôn trọng nguyện vọng của đa số nhân dân về một nền dân chủ hiện đại. Chương trình của chính phủ do Suárez đứng đầu đã tuyên bố rõ ràng về mục tiêu “nỗ lực thiết lập một hệ thống chính trị dân chủ, dựa trên sự bảo đảm các quyền dân sự và tự do, tạo cơ hội bình đẳng cho các nhóm dân chủ và thực sự chấp nhận đa nguyên”. Suárez cũng hứa tổ chức trưng cầu dân ý về cải tổ hiển pháp và tổng tuyển cử trong vòng một năm.

Nhà vua và thủ tướng Suárez ở vào tình thế phải đi trên dây, giữa một bên là các thành phần hữu khuynh trong quân đội – có khả năng đảo chính, mặt khác lại vẫn phải trấn an được phe đối lập và giảm thiểu bất ổn xã hội – bằng việc thực hiện những cải cách thực sự. Felipe Gonzalez, lãnh đạo của Đảng Công nhân Xã hội Chủ nghĩa Tây Ban Nha (PSOE) cảnh báo rằng việc thiếu những tiến bộ về dân chủ hóa sẽ tạo ra một cuộc khủng hoảng lớn, mà nền quân chủ sẽ chịu tổn thất trước tiên. Nhưng nếu nhịp độ thay đổi diễn ra quá nhanh, hoặc nếu những biện pháp cải tổ gây hoang mang cho thành phần tinh hoa cánh hữu, thì toàn bộ quá trình sẽ bị đảo ngược bằng một cuộc đảo chính. Mặt khác, nếu thay đổi quá chậm hoặc tỏ ra không thực chất, thì những cuộc bạo loạn và bất tuân dân sự quy mô lớn sẽ tạo cớ cho quân đội can thiệp để chiếm lấy chính quyền.

Nhận thức rõ được hoàn cảnh tế nhị ấy, nhà vua và thủ tướng Suárez đã hành động theo 3 nguyên tắc: hợp pháp, bao hàm tất cả các nhóm chủ chốt và thương lượng-thỏa hiệp. Điều này có nghĩa là cải cách dân chủ được thực hiện dựa trên sự tôn trọng luật pháp một cách chặt chẽ; bao gồm sự tham gia của tất cả các chính trị khác nhau trong quá trình chuyển tiếp, và thường xuyên sử dụng biện pháp đối thoại và thương lượng. Hành động theo những nguyên tắc này là nhân tố thiết yếu dẫn tới thành công của quá trình chuyển tiếp. Các nhóm với xu hướng chính trị rất khác nhau đều cảm thấy an tâm rằng lợi ích của mình sẽ được bảo vệ dưới chính thể dân chủ mới.

Cam kết thương lượng và thỏa hiệp, được thể hiện bởi Suárez và chính phủ của ông từ năm 1976 cho tới ngày thông qua Hiến pháp 1978 chính là nét nổi bật nhất trong hành xử của ban lãnh đạo của thời kỳ chuyển tiếp. Các học giả sau này đã coi thái độ cam kết này chính là thứ tạo nên “một truyền thống mới của sự đồng thuận” và sự khoan dung trong xã hội Tây Ban Nha, đối lập hẳn với hình ảnh đầy thù địch của “2 nước Tây Ban Nha” trong lịch sử. Nó đã tạo ra lòng tin giữa những kẻ tử thù và đặt nền móng cho tinh thần đồng thuận để từ đó lan tỏa đi khắp tầng lớp chính trị và đóng góp cho thành công của quá trình chuyển tiếp cũng như củng cố nhanh chóng chế độ mới.

Trong khi duy trì đối thoại với các thủ lĩnh đối lập, Suárez vẫn kiên định trên một số vấn đề quan trọng. Ví dụ, ông từ chối thành lập một chính phủ lâm thời và cũng không chịu thực hiện bầu cử ngay lập tức. Việc thành lập chính phủ lâm thời là một yêu cầu chủ chốt của đối lập cánh tả. Suárez khước từ đề nghị này dựa vào lập luận rằng chỉ có thông qua bầu cử mới có thể quyết định được những người sẽ đại diện cho nhân dân. Ông cũng hiểu tầm quan trọng đặc biệt của việc cho tất cả các nhóm trong xã hội có đủ thời gian để tổ chức hàng ngũ và cạnh tranh công bằng trong các cuộc bầu cử sau đó. Ông đã tin tưởng một cách đúng đắn rằng các cuộc bầu cử bao gồm được tất cả các nhóm/xu hướng chính là yếu tố then chốt bởi vì chúng sẽ cho biết mức độ ủng hộ thực sự dành cho các nhóm khác nhau và do đó, mang lại những đối tác thương lượng có tính chính danh trong việc giải quyết các câu hỏi hóc búa của quá trình dân chủ hóa, cơ cấu nhà nước, các vấn đề kinh tế-xã hội. Như ông đã nói trong môt diễn văn năm 1976 “Tương lai chưa được viết ra, bởi vì chỉ có người dân mới có thể viết ra nó”. Cam kết tôn trọng các cuộc bầu cử là đúng cả về nguyên tắc và khéo léo về mặt kỹ thuật, vì ở giai đoạn cuối của quá trình chuyển tiếp, Đảng Cộng Sản được cho là lực lượng đối lập mạnh nhất. Nhưng hóa ra, các cuộc bầu cử cho thấy rằng cử tri muốn chọn những lực lượng ôn hòa hơn.

Trong nội bộ phe đối lập

Các nhóm chính trị đối lập chủ chốt trong giai đoạn 1976-1978 là Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa (PSOE) và Đảng Nhân dân Xã hội chủ nghĩa (nhỏ hơn), Đảng Cộng Sản, một liên minh cánh hữu (Liên minh Nhân dân) dưới sự lãnh đạo của một cựu bộ trưởng dưới thời Franco; liên minh trung hữu của Suárez có tên Liên hiệp cánh trung dân chủ (UCD) và các đảng cấp vùng ở Catalonia và xứ Basque. Ngoài ra còn có nhiều đảng khác, từ xu hướng ủng hộ nền quân chủ cho đến Dân chủ Thiên Chúa giáo, cho tới các nhóm cực hữu và cực tả. Dưới thời Franco trước đây, không ai được có tiếng nói, thì giờ đây, ai cũng muốn mình được lắng nghe. Để gây áp lực hiệu quả hơn trong việc đòi dân chủ, 2 liên minh của các nhóm cánh tả đã hợp nhất năm 1976 dưới tên chung là “Phối hợp Dân chủ” (Coordinación Democrática). Chính điều này đã tạo điều kiện cho đối thoại giữa phe đối lập cánh tả và những nhà cải cách của chế độ.

Mặc dù chia rẽ trên một số vấn đề quan trọng, các nhóm đối lập chính vẫn chia sẻ mục tiêu thiết lập dân chủ. Mối đe dọa thường trực về một cuộc đảo chính quân sự, thứ mà hệ quả sẽ là thêm nhiều năm độc tài, áp bức nữa, đã củng cố những quan điểm về sự hài hòa và tạo động lực mạnh mẽ để cùng hợp tác nhằm đạt được các cải cách cần thiết. Hầu hết các nhóm đối lập cũng hiểu tầm quan trọng của việc tạo ra được một mặt trận thống nhất ủng hộ cải cách dân chủ. Một ví dụ minh họa là lãnh tụ Đảng Cộng Sản Santiago Carrillo. Trước khi gia nhập vào mặt trận “Phối hợp Dân chủ”, Carrillo đã công khai ủng hộ một sự chuyển tiếp về dân chủ thông qua đàm phán hơn là đoạn tuyệt triệt để với chế độ – vốn là lập trường mà đảng của ông luôn ủng hộ trước đó. Sau này, Carrillo giải thích rằng “lựa chọn không phải là giữa nền quân chủ với cộng hòa, mà là giữa độc tài và dân chủ”.

Các cuộc tổng tuyển cử đầu tiên diễn ra vào tháng 6 năm 1977 và tạo ra một chính phủ liên minh, đứng đầu là Suarez cùng với liên minh trung hữu UCD mới thành lập của ông. Tháng 10 năm 1978, sau 15 tháng đàm phán tích cực, nghị viện đã thông qua một bản hiến pháp mới mà đã được công chúng ủng hộ một cách áp đảo trong cuộc trưng cầu dân ý tháng 12 năm 1978. Việc thông qua hiến pháp này có thể được coi là điểm kết thúc của quá trình chuyển tiếp. Các quan điểm khác lại cho rằng, việc ký các đạo luật về quy chế tự trị vùng cho Cataloia và Xứ Basque vào năm 1979 hoặc thắng lợi của Đảng Xã hội trước liên minh UCD vào cuộc tổng tuyển cử năm 1982 mới đánh dấu sự hoàn tất của quá trình chuyển tiếp.

Môi trường dân sự

Sau hàng chục năm bị áp bức, người Tây Ban Nha bắt đầu đổ ra khắp đường phố. Sức ép từ quần chúng kết hợp với yếu tố lãnh đạo chính trị từ trên xuống và giữ cho cuộc chuyển tiếp đi về phía trước. Thông điệp được gửi đi rõ ràng là nếu các lãnh đạo chính trị muốn ổn định tình hình xã hội, họ cần phải thực hiện các cải cách dân chủ thực chất. Hành động tập thể của quần chúng do đó đã tiếp sức cho quá trình đàm phán khó khăn giữa giới tinh hoa với nhau. Thế cân bằng quyền lực tương đối giữa cánh tả và cánh hữu để giúp tăng cường cho lập trường của những người ôn hòa, ủng hộ giải pháp đàm phán và thỏa hiệp ở cả 2 phía. Các nhóm cánh tả có xu hướng thuận theo cách đàm phán với chế độ hơn vì thực tế cho thấy khá rõ ràng rằng chỉ có hành động bất bạo động của quần chúng là không đủ để kéo sập chính quyền. Đồng thời, mức độ của các cuộc biểu tình cũng phát tín hiệu cho giới bảo thủ cứng rắn về cái giá phải trả của việc tiếp tục cấm đoán các quyền tự do căn bản. Điều này đã giúp Suarez và nhà vua thực thi được chương trình cải tổ của mình. Điều thú vị là, chính phủ Suarez thường xuyên sử dụng các cuộc thăm dò dư luận để nắm bắt kịp thời thái độ của quần chúng. Và các cuộc thăm dò này cho thấy là, mặc dù dân chúng đổ xuống đường trong các cuộc biểu tình quy mô, nhưng mục tiêu của họ đều là ôn hòa. Tính đến giữa năm 1977, đã có nhiều biện pháp nhằm hợp pháp hóa quyền tự do biểu đạt và kết hợp được thực hiện.

Sự huy động trong giới công nhân, lao động đã là một trong những nguồn gây sức ép từ bên dưới. Hai tổ chức quan trọng nhất của giới lao động đều có liên hệ với Đảng Cộng Sản và Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa. Vào năm đầu tiên sau khi Franco qua đời, 150 triệu ngày lao động đã bị mất do các cuộc đình công, so với con số 14,5 triệu và năm trước đó. Thất nghiệp và lạm phát gia tăng là một phần nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng các cuộc đình công, nhưng rồi chúng cũng mau chóng tiếp nhận các mục tiêu chính trị. Giới công nhân đòi quyền đình công mà không bị trừng phạt và đòi có các tổ chức công đoàn thực sự đại diện cho họ. Phần lớn trong số họ ủng hộ một tiến trình cải cách thông qua đàm phán, hướng tới sự thay đổi dân chủ hơn là những thay đổi quá đột ngột, và coi các nước tư bản phương Tây như là hình mẫu noi theo, hơn là các nước Cộng sản. Lãnh đạo của một nhóm có liên hệ với Đảng Cộng Sản tuyên bố “Công nhân giờ đây, hơn bao giờ hết, ý thức được trách nhiệm của họ với cả cộng đồng. Chúng tôi không muốn làm đảo lộn mọi chuyện …(và)…cầm tù tất cả những ai đã từng cầm tù chúng tôi. Chúng tôi muốn có tự do cho mọi người như ở Tây Âu”.

Ngoài các nỗ lực huy động giới công nhân, các cuộc biểu tình quy mô lớn đòi cải cách chính trị và chống lại tình trạng bạo lực của cảnh sát lẫn các nhóm cực đoan là một khía cạnh quan trọng của môi trường dân sự trong giai đoạn này. Một tờ báo có uy tin tại Madrid đã thống kê được tới gần 800 các hành động tập thể trong 2 năm từ 1976 đến 1978. Bạo lực bởi nhóm ETA – một nhóm đòi li khai cho Xứ Basque – đã gia tăng trong thời kỳ chuyển tiếp này, và đây là một vấn đề mà nền dân chủ mới thiết lập của Tây Ban Nha sẽ phải vất vả đương đầu trong vài thập kỷ kế tiếp. Đầu năm 1977, thành phố Madrid bị chấn động bởi các vụ bắt cóc và bạo lực có động cơ chính trị đến từ cả phe tả và phe hữu. Một nhóm cánh tả cực đoan tên là GRAPO đã bắt giữ một sĩ quan cấp tướng và sát hại 4 cảnh sát. Một nhóm tân phát-xít đã bắn trọng thương một sinh viên biểu tình. Trong một sự kiện khét tiếng gọi là “thảm sát Atocha”, các tay súng tân phát-xít đã ám sát 5 luật sư bảo vệ cho quyền của người lao động, có liên hệ với đảng cộng sản tại Madrid. Sau khi đàm phán và được chính phủ cho phép, Đảng Cộng Sản đã tổ chức một tang lễ quy mô lớn cho các nạn nhân – có thể coi là cuộc tuần hành được cho phép đầu tiên của đảng này. Điều nghịch lý là một cuộc tấn công khủng bố với mục đích khơi lại nỗi sợ hãi với chủ nghĩa cộng sản có từ thời nội chiến đã lại cho kết quả ngược lại – hơn một triệu người đã lấp kín các con phố của Madrid thể bày tỏ tình đoàn kết với đảng cộng sản. Sau đó, một người bên trong chế độ và cũng là cựu cảm tình viên phát-xít đã viết rằng “nhiều người trong chúng tôi bắt đầu nghĩ rằng đảng cộng sản phải được cho phép hoạt động”. Và chỉ 3 tháng sau, lệnh cấm đảng cộng sản đã được dỡ bỏ.

Cuối cùng, bất kỳ một cuộc thảo luận nào về xã hội dân sự Tây Ban Nha vào giai đoạn này cũng đều phải nhắc đến ảnh hưởng của Giáo hội Công Giáo. Tây Ban Nha đã và vẫn đang là một nước với dân số áp đảo theo Công Giáo và Giáo hội đã là một thành trì cho sự tồn tại của chế độ Franco. Tuy nhiên trong suốt những thập kỷ trước khi Franco chết, nhiều người trong Giáo hội bắt đầu đặt dấu hỏi về tính chính đáng của chế độ này, ủng hộ cho công bằng xã hội và lan tỏa đi những thái độ mới ra toàn xã hội. Trong thánh lễ đăng quang của vua Juan Carlos, Đức Hồng Y của Madrid là Enrique y Tarancón đã dùng bài giảng lễ của mình để nhấn mạnh nhu cầu phải có tự do và tôn trọng nhân quyền. Ngài cũng ủng hộ các cải cách dân chủ, nói rằng Giáo hội sẽ đòi hỏi “sự tham gia cần thiết của người dân…vào các quyết định của chính quyền”.

Thông điệp và người nghe

Thông điệp chính của vua Carlos và thủ tướng Suarez là tiến trình dân chủ hóa sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các nhóm xã hội và là đảm bảo tốt nhất cho hòa bình, ổn định và phồn vinh. Để truyền đạt thông điệp này tới nhiều đối tượng người nghe khác nhau – từ các bộ phận trung thành với chế độ cũ, lực lượng vũ trang và các thành phần tinh hoa bảo thủ; cho tới các nhóm chính trị bị chia rẽ dựa trên yếu tố ý thức hệ và vùng miền- thì những nguyên tắc về tính hợp pháp, bao dung/không loại trừ/đàm phán và xây dựng đồng thuận đều đã được áp dụng nhất quán.

Thử thách đầu tiên, như được trình bày ở trên, là phải thuyết phục được quốc hội của chế độ Franco bỏ phiếu tự giải thể bằng cách thông qua một đạo luật cải cách chính trị. Để thúc đẩy mục tiêu này, Suarez đã có nhiều bài phát biểu, diễn văn trước Quốc hội và trên truyền hình, trong đó ông khéo léo biện luận rằng dân chủ hóa là biểu hiện cho tính liên tục của quá trình hiện đại hóa mà Franco đã khởi đầu, bởi vậy, ủng hộ cho cải cách là một trách nhiệm lịch sử. Đồng thời, Suarez cũng nêu ra mối nguy về xung đột xã hội sẽ xảy ra nếu thay đổi chính trị bị cản trở. Ông đưa ra một quan sát dựa trên logic rằng vì các lực lượng xã hội có tổ chức vốn dĩ đã tồn tại ở Tây Ban Nha rồi, nên sẽ là ngu ngốc nếu cứ giả vờ rằng chúng không tồn tại. “Những lực lượng này, dù gọi là đảng hay gì đi nữa, thì hiện đã tồn tại như một thực tế khách quan…Mục tiêu của các đảng phái là cụ thể và trong đó, cầm quyền là một mục tiêu quan trọng”. Quan trọng nhất, Suarez chỉ ra rằng “nếu con đường không được mở ra thông qua việc hợp pháp hóa – điều đang được đề xuất bởi chính nhà nước, thì hòa bình sẽ chỉ tồn tại về mặt hình thức, còn bên trong sẽ tiềm ẩn những mầm mống của bạo loạn.”

Bên cạnh nỗ lực sắp đặt thông điệp của mình theo cách nhằm trấn an thành phần bảo thủ, nhà vua và thủ tướng Suarez cũng tham dự các cuộc tiếp xúc với những thủ lĩnh đối lập cánh tả. Tư tưởng cộng sản và quyền tự trị vùng đã là những điểm nóng trung tâm của cuộc nội chiến và vẫn tiếp tục là những vấn đề tiềm ẩn khả năng bùng phát trong quá trình chuyển tiếp. Để minh chứng cho cam kết với nguyên tắc bao dung, không loại trừ bất cứ xu hướng chính trị nào, Suarez đã đi một bước mạo hiểm, đó là hợp pháp hóa Đảng Cộng Sản Tây Ban Nha, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ từ một số thành phần trong quân đội. Tuy nhiên, ông đã rất khéo chọn thời điểm, đó là sau các vụ thảm sát Atocha và trong một ngày nghỉ Lễ phục sinh. Ông cũng cho phép Josep Tarradellas – lãnh đạo đang lưu vong của vùng Catalonia – được trở về nước và đứng đầu chính phủ cấp vùng mới được tái lập. Sau các cuộc bầu cử năm 1977, vì lạm phát và thất nghiệp tăng cao, kéo theo sự gia tăng của hoạt động đình công, Suarez triệu tập lãnh đạo của các đảng phái chủ chốt đến tư dinh của ông tại Moncloa để đàm phán kế hoạch ổn định nền kinh tế. Trong “Các Thỏa Ước Moncloa” được ký kết sau đó, chính phủ và phe đối lập đã đạt được những thỏa hiệp khó khăn. Những thỏa ước này sau đó được thông qua ở nghị viện và đã góp phần giữ ổn định xã hội và củng cố cho nền dân chủ mới.

Soạn thảo hiến pháp mới

Chiến lược bao dung/không loại trừ và xây dựng đồng thuận cũng được sử dụng để viết bản hiến pháp mới, tăng cường thông điệp rằng nền dân chủ Tây Ban Nha đón nhận tất cả các thành phần xã hội và bảo đảm cho bản hiến pháp sẽ được ủng hộ rộng rãi. Nghị viện mới đã lập ra một tiểu ban soạn thảo hiến pháp gồm 7 người, là thành viên của 4 đảng lớn trong cơ quan lập pháp (bao gồm cả đảng cộng sản), cộng với một đại diện của phe dân tộc chủ nghĩa tại vùng Catalonia và xứ Basque. Các thành viên của hội đồng này đã đàm phán một cách toàn diện, thấu đáo, thường là rất gay go, và có khi kéo dài tới đem khuya tại những nhà hàng ở Madrid.

Những vấn đề gây chia rẽ nhất gồm có: duy trì nền quân chủ hay chọn chính thể cộng hòa, cơ cấu trung ương tập quyền hay tản quyền liên bang, và địa vị của Giáo hội Công Giáo. Các giải pháp thỏa hiệp cho những vấn đề này và cả các vấn đề khác nữa đã được đưa ra đàm phán trong suốt 15 tháng tiếp theo. Chế độ quân chủ được duy trì, nhưng quyền lực bị hạn chế. Vấn đề vùng miền thì được giải quyết theo hướng duy trì một sự mập mờ nhưng một cách sáng tạo. Hiến pháp tuyên bố về “sự thống nhất không thể chia cắt của quốc gia Tây Ban Nha” nhưng cũng vừa công nhận “quyền tự trị của các dân tộc và địa phương”. Công thức này tạo ra một nhà nước bán tập quyền, có sự linh hoạt để tản quyền. Năm 1979, các đạo luật về quyền tự trị của xứ Catalonia và xứ Basque được thông qua tại Nghị viện. Một vấn đề rất quan trọng khác đối với giới bảo thủ – vị trí đặc biệt của Giáo hội Công giáo và quyền về giáo dục mang tính tôn giáo – cũng được công nhận. Tóm lại, Hiến pháp 1978 là một tài liệu được soạn thảo kỹ lưỡng, thể hiện một sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội, đã đóng góp rất lớn vào cả thành công của quá trình chuyển đổi dân chủ lẫn bước tiến nhanh chóng của Tây Ban Nha trong việc củng cố chế độ dân chủ.

Các hoạt động tiếp cận ra bên ngoài

Trên bình diện quốc tế, nhà vua đi công du Hoa Kỳ vào năm 1976 và công khai khẳng định cam kết của ngài đối với dân chủ. Không lâu sau các cuộc bầu cử năm 1977, chính phủ của Suarez nộp hồ sơ xin gia nhập EU và đã trở thành thành viên của Hội đồng Châu Âu vào tháng 11 năm 1977. Tất cả các đảng phái chính trị lớn đều ủng hộ động thái này như một biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình hiện đại hóa và tạo tính chính danh quốc tế của Tây Ban Nha. Trong nội bộ phe đối lập, đảng PSOE (chính đảng chủ yếu theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa) có quan hệ gần gũi với Quốc tế Xã hội chủ nghĩa và Đảng Dân chủ Xã hội Đức.

Kết luận

Điều thiết yếu tạo nên thành công của quá trình chuyển tiếp dân chủ tại Tây Ban Nha chính là khả năng giữ vững tính pháp trị trong suốt toàn bộ quá trình và kiên định nguyên tắc bao dung/không loại trừ và thỏa hiệp giữa quan điểm, lợi ích của các nhóm khác nhau. Điều này đã giúp thuyết phục các nhóm này rằng lợi ích của họ gắn bó chặt chẽ với thành công của tiến trình dân chủ hóa. Nếu không có chiến lược này, thì hẳn là một bộ phận không nhỏ trong các nhóm đó sẽ không bao giờ chịu thỏa hiệp và khiến cho mục tiêu dung hòa các xu hướng chính trị trở nên khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả, và có thể đã dẫn tới một kết cục tiêu cực hơn nhiều cho đất nước.

Cuộc tổng tuyển cử mang tính đặt nền móng vào tháng 6 năm 1977 và việc thông qua hiến pháp mới năm 1978 đã thiết lập ra chế độ dân chủ mới của Tây Ban Nha. Các chính phủ kế tiếp sau đó đã có thể dùng các tiến trình và cơ cấu hợp hiến để giải quyết các vấn đề và mục tiêu tập thể dưa trên tính hợp pháp, chính danh và sự ủng hộ rộng rãi. Một âm mưu đảo chính do một sĩ quan quân đội cầm đầu vào năm 1981 đã thất bại sau sự lên án quả quyết từ nhà vua, nhưng vụ việc này cũng là lời nhắc nhở rằng chế độ dân chủ là một dự án chính trị còn đang tiếp diễn, mà thành công của nó đòi hỏi vừa phải kiên định bảo vệ nền dân chủ, vừa phải sẵn lòng thỏa hiệp với các đối thủ chính trị.

Cuộc đấu tranh của người dân Tây Ban Nha và lựa chọn từ cả các nhóm đối lập lẫn thành phần ôn hòa trong chế độ nhằm tạo ra một hệ thống dân chủ trên nền tảng đồng thuận rộng rãi – bất chấp những chia rẽ xã hội bám rễ lâu đời – đã khiến cho tiến trình chuyển tiếp của Tây Ban Nhà trở thành một hình mẫu tiêu biểu của chuyển đổi dân chủ trong hòa bình. Theo lời của nhà sử học Javier Monero Luzon, cuộc chuyển tiếp này đã chấm dứt sự tranh chấp giữa 2 nước Tây Ban Nha. “Dưới sự dẫn dắt của những người lãnh đạo, các công dân đã vượt qua những chia rẽ trong quá khứ – đó là di sản khủng khiếp của cuộc nội chiến và sự chuyên chế liên tục của Franco – và cùng nhau xây dựng một kỷ nguyên mới của hòa bình, tự do và tiến bộ”.

Chúng tôi chuyển ngữ bài nghiên cứu này từ nguồn:The Spanish Transition to Democracy

 

Comments

comments