Danh mục bạn phải biết để kết thúc chế độ độc tài

(Cảnh báo: Bài nghiên cứu dài hơn 7000 từ, nhưng bạn không thể dừng lại cho đến khi đọc đến dòng cuối cùng)

Sự chuyên chế (Hate Change đặt tên ảnh); Nguồn ảnh: seanholman.com

Tác giả Peter Ackerman và Hardy Merriman

Ngày nay, hầu hết những xung đột chết người trên thế giới không phải xảy ra giữa các quốc gia với nhau mà xảy ra bên trong các quốc gia ấy, buộc những nhà chuyên chế đối đầu với quần chúng mà họ áp bức. Có một quan điểm phổ biến cho rằng những nhóm quần chúng bị áp bức này có 2 lựa chọn: quy phục nền chuyên chế với hy vọng rằng nó sẽ tiến triển đến một mức dễ thở hơn hay tiến hành một cuộc nổi dậy bạo động để giành lấy tự do. Quan điểm hạn hẹp này đã bị bác bỏ bởi sự thật là: các chiến dịch phản kháng dân sự (đôi khi được gọi là các phong trào “quyền lực nhân dân” hay đấu tranh phi bạo lực) đã xảy ra thường xuyên hơn rất nhiều so với những gì đại chúng vẫn nghĩ. Khởi đầu vào năm 1900, tính trung bình hàng năm có một chiến dịch phản kháng dân sự lớn thách thức một nhà cai trị chính danh (1). Những phong trào do quần chúng lãnh đạo này ngày càng định hình nên kết quả của những xung đột nổi bật nhất về mặt địa chính trị và những cuộc chuyển tiếp dân chủ kể từ năm 1972 (2).Tuy nhiên, những nhà lập chính sách, học giả, phóng viên, cũng như những nhà quan sát hứng thú khác đều đánh giá thấp khả năng quần chúng trong việc làm xói mòn nền chuyên chế và giành lấy các quyền mà không cần đến bạo lực.

 Một điểm mù phân tích

Các cuộc nổi dậy ở Tunisia và Ai Cập vào năm 2011 và gần đây hơn ở Ukraine vào năm 2014 chính là những điển hình cho thấy làm thế nào mà phản kháng dân sự từ quần chúng có thể gây ngạc nhiên cho mọi người bởi sức mạnh cùng tiềm năng biến đổi của nó. Không ai thấy trước những cuộc nổi dậy này, tuy nhiên, điều đó lại khiến chúng hết sức đa dạng. Có chăng là chỉ vài người thấy trước “những cuộc Cách mạnh Màu” ở Serbia (2000), Georgia (2003), và Ukraine (2004). Trong các thập niên trước, không ai dự đoán được rằng phản kháng phi bạo lực có tổ chức sẽ đóng một vai trò quyết định trong cuộc sụp đổ của nhà độc tài Philippines là Ferdinand Marcos (1986), nhà độc tài Chile là Augusto Pinochet (1988), chính thể Sô Viết ở Ba Lan (1989), hay chính thể phân biệt chủng tộc ở Nam Phi (1992).

Khi các chuyên gia quốc tế và khu vực vất vả trong việc lý giải những cuộc đấu tranh phi bạo lực giống như trên, họ thường kết luận rằng: những trường hợp phản kháng dân sự thành công là những tình huống bất thường trong lịch sử, nhờ vào tập hợp những hoàn cảnh độc nhất trong một quốc gia nhất định tại một giai đoạn nhất định. Bởi họ xem những động lực của chúng mang tính đặc thù tình huống, nên chúng không được công nhận là bằng chứng cho một chiến lược tổng quát – mà nhờ đó, quần chúng có thể giành lấy quyền lực trước những kẻ đàn áp đa dạng. Tuy nhiên, những kẻ chuyên chế khắp thế giới chẳng lỡ mất gì từ điểm mù này. Họ cũng đã nhận ra những phong trào quyền lực nhân dân chính là mối nguy lớn nhất cho nền cai trị hiện đang tồn tại của họ.

Với tỷ lệ đang gia tăng của đấu tranh phi bạo lực trong thập kỷ vừa qua, thì một nhân tố cực kỳ quan trọng cho những ai ủng hộ sự thay đổi dân chủ là phải cập nhật kiến thức của mình về nguyên nhân thành công của các phong trào quyền lực nhân dân. Đấu tranh phi bạo lực thành công trong nhiều tình huống khác nhau bởi nó tận dụng 2 sự thực nền tảng: các chính thể chuyên chế dựa trên sự phục tùng rộng rãi của dân chúng bị áp bức để duy trì sự kiểm soát của chúng, và trong những chính thể như vậy, không phải tất cả mọi người đều trung thành như nhau.

 Phản kháng dân sự vận hành như thế nào

Dựa trên 2 sự thực này, những nhà phản kháng dân sự huy động quần chúng bất phục tùng và gây áp lực phi bạo lực một cách hệ thống – thông qua những chiến thuật như đình công, tẩy chay, biểu tình diện rộng, cùng những hoạt động khác – nhằm phá vỡ hệ thống áp bức và giành lấy các quyền, tự do, và công lý. Khi sự tham gia vào phản kháng dân sự trở nên đa dạng và phát triển, sự đàn áp nhằm vào những nhà phản kháng thường không còn đủ để khôi phục sự ổn định nữa mà thay vì vậy lại dễ phản tác dụng hơn.

Khi quá trình phá vỡ tiếp tục, những đổ vỡ cũng bắt đầu xuất hiện bên trong chính quyền và những thể chế trọng yếu khác của nhà nước (tức là: cảnh sát, quân đội, truyền thông và các tổ chức chính trị, quan chức và kinh tế). Những đổ vỡ này thường dẫn đến nạn đào ngũ, và khi sự đào ngũ tuôn trào, những năng lực cốt lõi mà một nền chuyên chế dựa vào để cai trị – sự kiểm soát các nguồn lực vật chất, nguồn lực con người, các kĩ năng và kiến thức con người, môi trường thông tin, và khả năng ban bố các sắc lệnh – cũng tiêu tan. Không còn sở hữu những nhân tố chỉ huy thiết yếu giúp thi hành những mệnh lệnh của mình, các nhà chuyên chế cuối cùng không còn lựa chọn và buộc phải từ bỏ vị trí của mình bởi áp lực phi bạo lực bền vững. Kết quả thường là một sự thay đổi toàn diện.

 Các kĩ năng và các điều kiện

Với tỉ lệ và tác động đang gia tăng của phản kháng dân sự, điều quan trọng với chúng ta là khảo sát những nhân tố định hình nên kết quả của nó. Phải chăng những điều kiện có trước khi cuộc đấu tranh bắt đầu sẽ quyết định cuộc đấu tranh hay nền chuyên chế chiến thắng? Hay đối với mỗi bên, chiến thắng được quyết định nhiều hơn bởi những lựa chọn chiến lược và sự khéo léo mà họ vận dụng trong đấu tranh?

Một phương diện trọng yếu trong nhiệm vụ của Trung Tâm Quốc Tế về Đấu tranh Phi bạo lực (mà chúng tôi cũng là thành viên) chính là chứng minh: xét toàn diện, các kĩ năng quan trọng hơn các điều kiện trong việc quyết định quỹ đạo và kết quả của phong trào. Quan điểm này thường thu hút sự phản đối mạnh mẽ – nhất là sự phản đối vin vào tính sẵn sàng sử dụng vũ lực của phe đối lập. Có một điệp khúc phổ biến là “Đấu tranh phi bạo lực chỉ hiệu quả trước những đối thủ lành bụng hay hòa nhã”, tuy nhiên, người ta lại dễ dàng quên mất sự thất bại của chính thể phân biệt chủng tộc ở Nam Phi, Pinochet ở Chile, Marcos ở Philippines, hay chính thể cộng sản ở Ba Lan. Những ví dụ gần đây hơn bao gồm Hosni Mubarak ở Ai Cập và Ben Ali ở Tunisia. Chẳng có chính thể nào trong số này có thể xem là ôn hòa, lành tính hay không muốn vận dụng đàn áp quyết liệt.

Những ví dụ định tính này cũng được ủng hộ bởi phân tích định lượng. Vào năm 2008, tổ chức Freedom House công bố một nghiên cứu khảo sát nhiều nhân tố đa dạng mang tính cấu trúc và ảnh hưởng của chúng đến đấu tranh dân sự trong 64 phong trào chuyển tiếp từ các chính quyền chuyên chế thuộc giai đoạn 1975-2006. Sau đây là một trích đoạn từ kết luận chủ chốt của nghiên cứu này:

 …  chẳng có nhân tố chính trị hay môi trường nào được khảo sát trong nghiên cứu này có tác động nổi bật về mặt thống kê đến sự thành công hay thất bại của các phong trào đấu tranh dân sự…Những phong trào dân sự có khả năng thành công tại những quốc gia kém phát triển, nghèo nàn về kinh tế cũng ngang bằng như tại những xã hội phát triển, thịnh vượng. Nghiên cứu này cũng không thấy bất kỳ bằng chứng rõ rệt nào về việc sự phân hóa chủng tộc hay tôn giáo có tác động lớn đến khả năng xuất hiện của một cuộc đấu tranh dân sự đoàn kết. Kiểu chính thể dường như cũng không có ảnh hưởng quan trọng nào đến khả năng giành được sự ủng hộ rộng rãi của các phong trào dân sự (3).

Nhân tố duy nhất được khảo sát trong nghiên cứu có ảnh hưởng nổi bật về mặt thống kê đến sự xuất hiện và kết quả của các phong trào đấu tranh dân sự chính là sự tập trung hóa của chính quyền. Các tác giả viết rằng:

Nghiên cứu cho thấy mức độ tập trung hóa cao tương quan tích cực với sự xuất hiện của một phong trào dân sự mạnh mẽ cùng tiềm năng thách thức uy quyền của chính thể. Chiều ngược lại cũng tỏ ra đúng: mức độ phân tán hóa chính quyền càng cao, khả năng xuất hiện của phong trào huy động dân sự thành công càng thấp (4).

Như vậy, mặc dù nghiên cứu này phát hiện một điều kiện môi trường ảnh hưởng đến quỹ đạo của các phong trào đấu tranh dân sự, thế nhưng nhìn chung, các phát hiện của nó phản bác mạnh mẽ những khẳng định cho rằng: các điều kiện quyết định đến kết quả của những cuộc đấu tranh này.

Ba năm sau, trong quyển sách đạt giải thưởng năm 2011 của họ – Vì sao Đấu tranh Dân sự Thành công:  Logic Chiến lược của Đấu tranh Phi bạo lực (Why Civil Resistance Works: The Strategic Logic of Nonviolent Conflict), các học giả Erica Chenoweth và Maria Stephan phân tích tỉ mỉ 323 chiến lược bạo động và phi bạo lực từng thách thức các chính quyền đương nhiệm trong giai đoạn 1900-2006 (5). Những phát hiện đột phá của họ cho thấy các chiến dịch phi bạo lực thành công 53% số lần so với tỉ lệ 26% của các chiến dịch bạo động (6). Họ cũng phát hiện ra rằng:  mặc dù sự đàn áp từ phía nhà nước cùng những nhân tố cấu trúc khác có thể ảnh hưởng đến viễn cảnh thành công của một chiến dịch phản kháng dân sự (nhưng thường thì khả năng ảnh hưởng này cũng thấp hơn so với những gì công chúng quan niệm – trong trường hợp nhà nước đàn áp vũ lực, tỉ lệ thành công cũng chỉ giảm khoản 35%), thế nhưng, họ không tìm thấy điều kiện cấu trúc nào quyết định kết quả của phong trào (7). Sau khi đánh giá toàn diện dữ liệu, họ kết luận rằng “bằng chứng nghiên cứu cho thấy rằng phản kháng dân sự thường thành công bất kể những điều kiện môi trường mà nhiều người vẫn xem là nguyên nhân cho thất bại của các chiến dịch phi bạo lực (8)”.

Những kết quả này phơi bày những tiền đề sai nằm sau những kiến thức phổ biến về phản kháng dân sự. Các kĩ năng và lựa chọn chiến lược thường quan trọng hơn các điều kiện trong việc định hình nên kết quả của các cuộc đấu tranh này. Thực ra, điều này cũng chẳng lạ khi chúng ta nhớ cho rằng: quyết định mang tính chiến lược đầu tiên của những người phản đối nền chuyên chế chính là phương thức đấu tranh. Một cách hợp l‎ý, có thể dự đoán rằng: nếu các điều kiện bên ngoài đóng vai trò chủ chốt trong việc định hình kết quả thì lựa chọn chiến lược về phương thức đấu tranh của người dân khi đối đầu với nền chuyên chế sẽ không quan trọng, và tỉ lệ thành công giữa đấu tranh bạo động và phi bạo lực qua thời gian và qua nhiều trường hợp sẽ đồng đều như nhau.

Nhưng dữ liệu lại không cho thấy điều đó. Trong giai đoạn 1900-2006, các phong trào quyền lực nhân dân thành công hơn gấp 2 lần, và các nghiên cứu tình huống gần đây cho thấy sự khác biệt trong tỉ lệ thành công không thay đổi đáng kể (9). Một số người có thể phản bác điều này bằng cách khẳng định những nhà phản kháng dân sự lựa chọn những trận đánh dễ ăn hơn, nhưng Chenoweth và Stephan đã đoán trước về lập luận này và chứng minh rằng “… đa số áp đảo các chiến dịch phi bạo lực xuất hiện trong các chính thể chuyên chế… đối với các chính thể này, ngay cả đấu tranh hòa bình chống lại chính quyền cũng chịu những hậu quả khốc liệt (10)”.

Nhà kinh tế học đoạt Giải Nobel là Thomas Schelling đã phát biểu chính xác về vấn đề này trong bài tiểu luận ông viết cách đây hơn 50 năm trong quyển sách Phản kháng Dân sự như một cách Vệ Quốc: Hoạt động Phi bạo lực chống lại Công kích (Civilian Resistance as a National Defence: Nonviolent Action against Aggression.) Sau đây là kết luận của ông:

Ở một mức độ nhất định, nhà chuyên chế và quần chúng của mình ở 2 vị thế đối xứng nhau. Hầu hết những gì nhà chuyên chế muốn thì quần chúng đều có thể từ chối – họ có thể khi họ có được một tổ chức kỷ cương để khước từ hợp tác. Và nhà chuyên chế cũng có thể từ chối quần chúng gần như tất cả những gì họ muốn – nhà chuyên chế có thể từ chối bằng cách sử dụng vũ lực theo lệnh của ông ta…Đây là một tình huống thương lượng mà nếu mỗi bên có kỷ cương và tổ chức đầy đủ đều có thể từ chối hầu hết những gì bên kia mong muốn; và phải chờ để xem ai sẽ thắng (11).

Theo Schelling, những chiến thuật mà những nhà phản kháng dân sự lựa chọn có cả chi phí và lợi ích, cả chiến thuật của phe chuyên chế đối lập cũng vậy. Kẻ chiến thắng là nhân vật chính phân bổ chi phí và lợi ích hiệu quả nhất cho phe mình. Nhà lãnh đạo phản kháng dân sự khéo léo muốn tạo ra sự đổ vỡ để tối đa hóa nạn đào ngũ, và một cách tối ưu, anh ta cũng muốn vận dụng những chiến thuật sao cho tương đối ít sự đổ vỡ lại dẫn đến việc đào ngũ ở mức độ lớn. Nhà chuyên chế khéo léo muốn ép buộc sự phục tùng – thông thường dựa vào vũ lực – và một cách tối ưu, ông ta cũng muốn vận dụng vũ lực tối thiểu để đạt được sự phục tùng tối đa. Tích lũy lại, tổng thể nạn đào ngũ cùng sự phục tùng sẽ xác định ai là người chiến thắng.

Danh mục

Nếu các kĩ năng và lựa chọn chiến lược ảnh hưởng nhiều nhất đến kết quả của các phong trào phản kháng dân sự, thì chúng ta có thể xác định những khả năng, kĩ năng, và lựa chọn chúng qua một loạt các phong trào tạo nên những mẫu số thành công chung. Nhiều phương diện của một phong trào có thể được phân tích, tuy nhiên khi chúng tôi chọn lọc số lượng lớn các biến số, chúng tôi phát hiện 3 khả năng chính yếu cho các phong trào phản kháng dân sự thành công là:

  1. Khả năng đoàn kết quần chúng
  2. Hoạch định tổ chức
  3. Kỷ luật phi bạo lực

Khi những khả năng này có mặt trong một phong trào phản kháng dân sự, chúng sẽ lập nền tảng cho 3 xu hướng mạnh mẽ xuất hiện, những xu hướng này cũng tác động cao độ đến thành công của phong trào. Các xu hướng này là:

  1. Gia tăng sự tham gia của các công dân vào phong trào phản kháng dân sự
  2. Giảm thiểu tác động của đàn áp, và gia tăng hiệu ứng ngược của đàn áp
  3. Gia tăng nạn đào ngũ từ phe đối lập với phong trào

Kết hợp lại với nhau, chúng tôi gọi 3 đặc tính cùng 3 xu hướng ấy là “Danh mục”. Chúng tôi tin rằng đạt được những đặc tính và xu hướng này sẽ gia tăng mạnh mẽ khả năng thành công của một phong trào. Về phương diện ấy, danh mục này không phải là một công thức chắc chắn cho ra một kết quả nào đó, mà là một khung sườn giúp quần chúng sắp đặt tư duy và cải thiện tính hiệu quả của họ.

Để làm được như vậy, một chức năng của danh mục này là phải giải quyết triệt để sự mất phương hướng có thể xuất hiện suốt cuộc đấu tranh. Tính phức tạp là một trong những thử thách lớn nhất mà bất kỳ phong trào phản kháng dân sự nào cũng phải đối mặt, và trong đám sương mù xung đột, có thể khó mà nhận ra những nhân tố nào là quan trọng nhất khi ra quyết định. Chúng tôi quan niệm rằng nếu một nhà hoạt động hay một nhà quan sát bên ngoài muốn đánh giá những viễn cảnh của phong trào, thì việc đặt câu hỏi “liệu 3 khả năng và 3 xu hướng trong danh mục đã xuất hiện hay chưa” sẽ cho một cơ sở vững chắc để đánh giá hiện trạng, điểm mạnh, điểm yếu và viễn cảnh thành công của một phong trào.

Chúng tôi phân tích tỉ mỉ về danh mục như dưới đây:

1. Khả năng đoàn kết nhân dân

Những nhà chuyên chế là những kẻ hành động sành sõi việc chia để trị và những ai thách thức họ phải sành sõi hơn về khả năng xây dựng tình đoàn kết. Xây dựng và duy trì sự đoàn kết bao gồm nhiều phương diện, tuy nhiên, phương diện trọng yếu trong nhiệm vụ này là phát triển một tầm nhìn chung và toàn diện cho phong trào phản kháng dân sự. Để đạt được điều này đòi hỏi những nhà tổ chức phong trào phải hiểu biết sâu sắc về những nỗi bất bình, nguyện vọng, văn hóa, và giá trị của những tầng lớp quần chúng đa dạng mà họ muốn huy động. Hiểu biết này sẽ làm nền tảng cho việc phát triển và truyền thông một tầm nhìn thu hút sự hỗ trợ rộng rãi và huy động được quần chúng. Những tầm nhìn hiệu quả sẽ hàm chứa kinh nghiệm cá nhân cùng cảm nhận của quần chúng nhân dân và kêu gọi sự tham gia của họ vào công cuộc phản kháng dân sự chung.

Một phương diện trọng yếu khác trong việc xây dựng tình đoàn kết chính là sự hiện diện của khả năng lãnh đạo và cấu trúc tổ chức cùng với tính chính đáng. Sự tham gia vào các phong trào mang tính tự nguyện, và theo đó, các nhà lãnh đạo không có mệnh lệnh và thẩm quyền kiểm soát chính danh đối với khối quần chúng được huy động. Điều này có nghĩa là các quyết định trong một phong trào phải được lập và tiến hành theo những phương thức mà khối công chúng được vận động tham gia cảm thấy chính đáng. Mỗi phong trào sẽ phát triển những cách riêng để làm được điều đó – một số mang nặng tính cấp bậc, một số thiên về hướng phân quyền, và một số kết hợp cả 2 hướng này theo thời gian. Bất kể sự lãnh đạo và cấu trúc tổ chức đúng đắn của một phong trào là gì, vẫn có nhiều hình thức lãnh đạo khác nhau trong các phong trào, và sự đoàn kết bao hàm cả việc dung hòa các hình thức này. Đi kèm mỗi nhà lãnh đạo quốc gia – dù chỉ mang danh nghĩa hay có sức lôi cuốn – là nhiều nhà lãnh đạo địa phương cần phải nhuần nhuyễn cao độ việc xây dựng những mối liên kết, đàm phán, và gắn kết những mối quan tâm từ nhiều nhóm khác nhau. Khả năng của nhiều lãnh đạo khác nhau, ở những cấp độ khác nhau (địa phương hay quốc gia), từ nhiều vùng miền khác nhau của đất nước, đại diện cho nhiều nhóm khác nhau, là làm việc cùng tập thể để nuôi dưỡng sự đoàn kết trong dài hạn.

Chúng ta có thể thấy bằng chứng cho cả 2 phương diện đoàn kết này trong cuộc phản kháng dân sự được vận dụng bởi phong trào chống Apartheid ở Nam Phi vào thập niên 1980. Hàng trăm nhóm dân sự địa phương đã nảy nở suốt thập kỷ đó để bênh vực cho những đòi hỏi của địa phương như nước sạch và tiếp cận dịch vụ, đồng thời họ cũng đoàn kết dưới một tầm nhìn chung để chấm dứt chế độ Apartheid và đạt được sự hòa giải dân tộc. Những nhóm dân sự này đã liên kết lại thành Mặt trận Dân chủ Thống nhất (United Democratic Front), chúng có những nhà lãnh đạo địa phương đủ sức dẫn dắt hiệu quả những chiến thuật phân quyền (chẳng hạn như tẩy chay người tiêu dùng) đối với những vấn đề địa phương, đồng thời họ cũng truyền thông và phối hợp với những cấu trúc tổ chức lớn hơn cũng như nhóm lãnh đạo phong trào cấp quốc gia.

2. Hoạch định tổ chức

Tiến hành công cuộc phản kháng dân sự hiệu quả phức tạp hơn so nhiều so với những gì công chúng vẫn nghĩ. Khi nghĩ đến phản kháng dân sự, người ta mường tượng đến cảnh phản đối, tuy nhiên, đó mới chỉ là một trong hàng trăm chiến thuật có thể vận dụng. Những phong trào hiệu quả nhất hiểu được chiến thuật nào nên dùng, thời gian, địa điểm, phương thức, và người thi hành, mục tiêu nào nên nhắm đến, và nên kết hợp cùng những chiến thuật nào khác.

Để trả lời thỏa đáng những câu hỏi này đòi hỏi việc hoạch định phải dựa vào phân tích chi tiết những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của phong trào và của đối thủ, đồng thời cũng phải dựa vào việc đánh giá môi trường đấu tranh, các phe trung lập và đứng ngoài cuộc (bao gồm các thành viên của cộng đồng quốc tế) có thể ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh. Dựa vào thông tin này, các phong trào có thể xây dựng những mục tiêu hiệu quả trong ngắn, trung, và dài hạn cũng như thực thi được những kế hoạch tổ chức. Trong khi những kế hoạch này sẽ tiến triển qua thời gian theo những sự kiện trong cuộc đấu tranh (giống như mọi kế hoạch khác), thì đối với các thành viên của phong trào, quy trình hoạch định và não trạng mới là nhân tố trọng yếu hơn trong công tác xây dựng chứ không phải chính bản thân kế hoạch.

Đôi khi, chính trong khâu hoạch định tổ chức chúng ta mới thấy được sự giao thoa rõ ràng nhất của các kĩ năng và điều kiện trong một cuộc đấu tranh. Cơ sở cho hoạch định tổ chức là bước đánh giá các điều kiện – thuận lợi và cản trở – mà phong trào phải đối mặt. Kế đó, phong trào sẽ hoạch định để khảo sát những điều kiện thuận lợi và vượt qua, chuyển hóa hay tránh né những điều kiện cản trở thông qua các kĩ năng và lựa chọn chiến lược.

Chúng ta có thể thấy một ví dụ rõ nét cho hoạch định tổ chức trong phong trào Đoàn kết ở Ba Lan vào thập niên 1980. Hiểu được những điểm mạnh và khả năng của mình, các công nhân đã công bố một đòi hỏi mạnh mẽ và thực tế về mặt chính trị – đó là đòi hỏi được lập các hiệp hội thương mại độc lập (nhưng bản thân họ cũng tránh đòi hỏi một mục tiêu bất khả thi là chấm dứt nền cai trị Cộng sản); tập trung các điểm mạnh của mình vào việc tổ chức lao động và đoàn kết tập thể công nhân đa dạng trước một nền kinh tế dễ tổn thương và tính phi chính đáng của đối thủ; đồng thời lựa chọn chiến thuật đình công hiệu quả bằng cách chiếm giữ công sở của họ (thay vì diễu hành bên ngoài công sở, cách làm đó khiến họ dễ tổn thương trước đàn áp khi họ thi hành vào những năm trước). Điều này lại được củng cố thêm khi công nhân dựa vào những thể chế khác nhau – đặc biệt là báo in và tạp chí định kỳ độc lập – chúng đã được xây dựng suốt thập kỷ trước để hỗ trợ cho truyền thông giữa các thành phố. Bằng cách lựa chọn một mục tiêu chiến lược, một mục đích phù hợp, cùng những chiến thuật phù hợp (một cuộc đình công chiếm giữ và vận dụng những thể chế khác nhau) nằm trong khả năng của mình, phong trào Đoàn kết đã định hướng hiệu quả môi trường đấu tranh, vượt qua những điều kiện cản trở, và tạo ra tiến triển hướng đến mục tiêu tối hậu của họ là một quốc gia Ba Lan dân chủ, điều đó đã thành sự thật vào năm 1989 (12).

3. Kỷ luật phi bạo lực

Việc duy trì kỷ luật phi bạo lực – đó là khả năng giữ vững sự phi bạo lực của các nhà phản kháng bất chấp bị khiêu khích – chính là cốt lõi trong các động lực chức năng của phản kháng dân sự. Với kỷ luật phi bạo lực, các phong trào sẽ tối đa hóa sự tham gia của các công dân, gia tăng chi phí đàn áp của đối thủ, gia tăng khả năng phản ứng ngược của đàn áp, và gia tăng mạnh khả năng khơi gợi đào ngũ từ những trụ cột hỗ trợ chủ chốt của đối thủ. Theo như nghiên cứu của Chenoweth và Stephan cho thấy, những lợi ích này góp phần mạnh mẽ vào sự khác biệt trong tỉ lệ thành công giữa các chiến dịch đấu tranh bạo động và dân sự (13).

Đạt được kỷ luật phi bạo lực đòi hỏi các phong trào phải có niềm tin rằng: phản kháng dân sự chính là một phương tiện hiệu quả để tiến hành cuộc đấu tranh của họ. Về phương diện này, thông tin về phương thức hoạt động của phản kháng dân sự cùng ghi chép lịch sử của nó có thể hữu ích giống như một chiến lược hữu hiệu – loại chiến lược mang lại những thành công tuần tự qua thời gian và chứng tỏ phản kháng dân sự có hiệu quả. Các phong trào cũng duy trì kỷ luật phi bạo lực bằng cách xây dựng một văn hóa và chuẩn mực củng cố văn hóa đó. Chẳng hạn, phong trào Otpor ở Serbia (phong trào đã trục xuất Slobodan Milosevic) đã huấn luyện một cách hệ thống những thành viên mới để họ hiểu được cách thức phản kháng dân sự hoạt động và tại sao việc giữ vững phi bạo lực lại quan trọng.

Những nỗ lực đó không đòi hỏi phong trào phải lý luận trên phương diện luân lý về việc giữ vững phi bạo lực, tuy nhiên, mọi người phải củng cố lẫn cho nhau những lợi ích thực tế của kỷ luật phi bạo lực, đồng thời ghi nhớ những tình huống (Syria chính là một điển hình thảm khốc gần đây) mà sự mất kiên nhẫn hay thiếu niềm tin vào phản kháng dân sự dẫn đến việc chuyển sang các chiến thuật bạo động, kèm theo những hậu quả tàn khốc có thể thấy trước.

4. Gia tăng sự tham gia dân sự vào phản kháng dân sự

Có lẽ sự tham gia cao độ của các công dân vào cuộc phản kháng dân sự chính là một chỉ dấu mạnh mẽ nhất cho thành công của phong trào (14). Điều này hợp lý bởi càng nhiều người từ chối vâng lời và phục tùng nhà chuyên chế, thì nhà chuyên chế càng yếu đi, và khi ông cố gắng giữ quyền kiểm soát thì chi phí càng lớn. Hơn nữa, chúng tôi tin rằng gia tăng sự tham gia dân sự cũng gia tăng cơ hội đàn áp dẫn đến phản ứng ngược và bằng chứng định lượng cho thấy sự tham gia dân sự càng cao thì khả năng càng cao xuất hiện các cuộc đào ngũ trong hàng ngũ ủng hộ phe đối lập.

Minh họa cho tầm quan trọng của sự tham gia dân sự cao độ, các cuộc cách mạng năm 2011 ở Ai Cập và Tunisia đã khơi gợi sự ủng hộ rộng rãi xuyên suốt nhiều nhóm nhân khẩu khác nhau – nam giới và nữ giới; tôn giáo và thế tục; trẻ, trung niên, cao niên; công nhân hạ và trung lưu, và thành thị cùng nông thôn. Trái lại, cả phong trào sinh viên 1989 ở Trung Quốc và Phong trào Xanh 2009 đã huy động được hàng triệu người và chiếm đầy các mặt báo, nhưng không cái nào đạt được mục tiêu đề ra, một phần vì chúng đều không phát triển việc tham gia dân sự rộng rãi hơn nhóm nhân khẩu nền tảng ban đầu (15).

Đạt được sự tham gia cao độ vào cuộc phản kháng dân sự chính là một bước tiến cho 3 nhân tố đầu tiên trong danh mục. Một tầm nhìn thống nhất giúp xây dựng tính cố kết và kích hoạt quy trình vận động. Hoạch định tổ chức lan truyền niềm tin và đề xuất một chuỗi chiến thuật để dung hòa mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau của quần chúng, cũng như thời gian tham gia, và khả năng hy sinh cho phong trào. Một chiến lược hữu hiệu sẽ cung cấp nhiều lựa chọn cho người nghèo, người giàu, người trẻ, người già, và bất kỳ ai khác để có thể làm được gì đó hỗ trợ cho phong trào, dù lớn hay nhỏ. Kỷ luật phi bạo lực đảm bảo rằng mọi người đều có thể tham gia (trái ngược với cuộc phản kháng vũ trang – chỉ những ai đủ thể lực mới có thể tham gia) và các phương tiện phi bạo lực có khả năng cao hơn nhiều trong việc kêu gọi nhiều tầng lớp rộng rãi trong xã hội.

5. Giảm thiểu tác động, và gia tăng hiệu ứng ngược của đàn áp

Một trong những công cụ mạnh mẽ nhất của nhà chuyên chế chính là khả năng cam kết đàn áp, và những phong trào hiệu quả sẽ học được cách giảm thiểu tác động của đàn áp đồng thời gia tăng chi phí của nó. Một cách để họ làm được điều đó là dựa vào việc đánh giá chính xác rủi ro và lựa chọn chiến thuật bởi vì không phải mọi chiến thuật đều rủi ro ngang nhau trước đàn áp. Trong khi những hoạt động tập trung hóa chẳng hạn như biểu tình rộng rãi thường phải chịu đàn áp, thì những chiến thuật phân tán chẳng hạn như tẩy chay người tiêu dùng, đình công ở nhà, nghỉ học, hay nặc danh trưng bày những biểu tượng nhỏ ở nơi công cộng sẽ mang tính thách thức cao hơn nhiều cho sự đàn áp của chính thể. Sở dĩ như vậy là vì những người tham gia vào một số chiến thuật (như tẩy chay người tiêu dùng) không biểu hiện rõ ràng (bạn không thể chỉ ra được ai đó có tẩy chay một sản phẩm hay không chỉ bằng cách nhìn bề ngoài) hay bởi họ đã phân tán đi và có khả năng phủ nhận việc mình làm (chẳng hạn hình thức đình công ở nhà đòi hỏi cảnh sát phải ghé thăm nhà của mọi công nhân và những người can dự đang bệnh có thể nói rằng hôm đó, họ thực sự bị bệnh).

Vào năm 1983 ở Chile, những nhà bất đồng chính trị với nền chuyên chế của Augusto Pinochet phải tìm cách tránh né sự đàn áp của ông. Một thập niên bắt giam, hành quyết, tra tấn và mất tích hàng loạt đồng nghĩa rằng nhân dân sợ hãi việc tổ chức hay huy động cùng nhau. Vào tháng Tư, các công nhân mỏ đồng kêu gọi một cuộc đình công bên ngoài Santiago, nhưng Pinochet đe dọa đổ máu bằng cách gửi quân đội bao vây khu mỏ trước thời điểm được cho là bắt đầu cuộc đình công. Trước sự đàn áp như thế, những nhà lãnh đạo công nhân hủy bỏ cuộc đình công và thay vì vậy, họ kêu gọi một ngày phản đối toàn quốc, vào ngày đó, tất cả những ai phản đối chính thể sẽ làm việc thật chậm, đi thật chậm, lái xe thật chậm, và khua nồi chảo lúc 8:00 PM (16). Sự tham gia vào những hoạt động này chưa từng có tiền lệ và rộng khắp, và từ đó dẫn tới việc kêu gọi phản đối hàng tháng. Đây là bước đi quan trọng đầu tiên phá tan màn sợ hãi và bom đạn vốn là hòn đá tảng trong nền cai trị của Pinochet. Những hoạt động này có một mức rủi ro thấp có thể chấp nhận được đối với những người tham gia và cũng không thể bị kiềm chế – các lực lượng an ninh của Pinochet chẳng có giải pháp nào trước những chiến thuật phân tán diện rộng như thế.

Những phương diện khác của việc giảm thiểu tác động của đàn áp, hay gia tăng chi phí của nó và khả năng phản ứng ngược, bao gồm việc công bố những nỗi bất bình bằng những thuật ngữ phi chính trị (những cuộc biểu tình yêu cầu nước sạch và an ninh lân cận, thay vì lật đổ chính thể), lập dòng kế tục lãnh đạo rõ ràng, và vượt qua khoảng cách xã hội giữa những người tham gia phong trào, các nhóm nội địa và quốc tế, nhờ đó, đàn áp chống lại phong trào có nhiều khả năng phản ứng ngược hơn. Chẳng hạn, khi Blogger Ai Cập là Khaled Said bị kéo ra khỏi một quán Café Internet vào năm 2010 và bị lực lượng an ninh đánh đến chết vì đã vạch trần tham nhũng, nhóm Facebook bất đồng chính kiến “Chúng tôi là All Khaled Said” đã phản đối những động thái từ chính quyền Ai Cập nhằm hạ thấp cuộc đời của Said. Thông qua sự hiện diện của mình, họ đã chứng tỏ rằng: Said giống phần nhiều với những người Ai Cập bình thường, do đó khiến cuộc đàn áp phản tác dụng.

6. Gia tăng nạn đào ngũ từ phe đối lập với phong trào

Khi phản kháng dân sự tiến triển qua thời gian, nó thường gây nên sự chuyển dịch lòng trung thành và đào ngũ trong số những người ủng hộ chủ động và bị động của phe đối lập. Chẳng hạn, những nhà cải cách và những người cứng rắn trong chính quyền có thể bắt đầu tranh đấu lẫn nhau một cách công khai để giành quyền kiểm soát. Những lợi ích kinh tế có thể gây áp lực buộc nhà nước phải thích nghi với những đòi hỏi của phong trào để tình hình kinh doanh có thể hồi phục. Các công chức chính thể như binh sĩ, cảnh sát, quan chức, cùng những chức vụ khác cũng có thể bắt đầu thay đổi lòng trung thành, có thể do họ đã được thuyết phục về những yêu cầu của phong trào, ghê tởm chính thể, hay bởi họ có những thành viên gia đình và bạn bè đang tham gia vào cuộc phản kháng dân sự. Ngay cả những thành phần tinh hoa đồng cảm với chính thể cũng có thể bắt đầu hoài nghi tính bền vững của nó và trở nên trung lập để tránh mạo hiểm rơi vào kết cục ở nhầm phe với lịch sử nếu cuộc phản kháng dân sự thành công.

Trong cuộc Cách mạng Cam ở Ukraine năm 2004, những người bất đồng chính kiến muốn tìm những kênh liên lạc với lực lượng an ninh, dựa vào trung gian là những nhóm sĩ quan quân đội đã về hưu (17). Qua thời gian, bằng những hoạt động của mình, phe đối lập chứng tỏ rằng họ phi bạo lực và có lý do chính đáng; họ kêu gọi lực lượng an ninh phục vụ và bảo vệ lợi ích công; vượt qua khoảng cách xã hội thông qua thiện chí, khẩu hiệu và các hoạt động (chẳng hạn như tặng hoa hồng cho cảnh sát chống bạo động); cho thấy sự thối nát của chính thể đang cầm quyền; và sau hết, gây nên sự chuyển dịch lòng trung thành từ nội bộ lực lượng an ninh. Khi đến lúc đối đầu với đàn áp, nhiều binh lính và cảnh sát Ukraine chỉ đơn thuần trở nên trung lập. Điều tương tự cũng xảy ra tại Serbia dưới thời Milosevic. Không đào ngũ một cách công khai, lực lượng an ninh tại đây chỉ đơn giản ngưng thi hành sốt sắng những mệnh lệnh của chính thể. Vào đỉnh điểm phong trào Otpor là ngày 5 tháng Mười, viên sĩ quan cảnh sát phụ trách rải hóa chất từ trực thăng lên đám đông tại Belgrade từ chối làm nhiệm vụ, lấy lý do rằng anh ta không thấy rõ được đám đông vì thời tiết mịt mù, mặc dù khi đó trời nắng. Sau đó, anh giải thích rằng anh cảm thấy không thể thi hành những mệnh lệnh ấy bởi có thể người thân trong gia đình anh ta đang có mặt trong đám biểu tình hôm ấy (18).

Cho dù được thúc đẩy bởi tính thuyết phục hay lợi ích cá nhân, những hiện tượng đào ngũ như thế thường là kết quả của những quy trình dài hạn được châm ngòi bởi phong trào phản kháng dân sự. Giống như 2 xu hướng danh mục trước, xu hướng này cũng nổi lên nhờ vào sự đoàn kết, hoạch định và kỷ luật phi bạo lực của phong trào. Dữ liệu cho thấy sự tham gia đa dạng cao độ tương quan với khả năng đào ngũ gia tăng, và sự đoàn kết, hoạch định cùng kỷ luật phi bạo lực đều góp phần vào sự tham gia rộng rãi và đa dạng. Đặc biệt, kỷ luật phi bạo lực là nhân tố quan trọng để khơi gợi sự đào ngũ. Cho tới khi nào phong trào vẫn còn phi bạo lực và tránh khỏi việc diễn tiến sang bạo động nổi dậy (như trường hợp thảm khốc tại Syria suốt năm 2011) thì phong trào vẫn còn có thể tồn tại để phát triển trong tương lai và vẫn còn cơ hội gây nên đào ngũ. Nếu mục tiêu chuyển đổi lòng trung thành trong nội bộ chính thể chưa bị phá hỏng bởi một cuộc bạo động nổi dậy, thì tiềm năng gây đào ngũ của nó vẫn sẽ là một mối đe đọa thường trực cho sự cố kết của cấu trúc quyền lực của chính thể chuyên chế.

Những gợi mở cho những tác nhân Bên ngoài

Danh mục này không chỉ là chỉ dẫn hữu ích cho những nhà bất đồng chính kiến. Các công dân khác cũng có thể vận dụng nó để cải thiện kết quả của họ liên quan đến những cuộc đấu tranh này.

Chẳng hạn, danh mục này có thể giúp các phóng viên báo cáo sâu sắc hơn về phản kháng dân sự. Nếu các phóng viên muốn có hiểu biết sâu sắc về một cuộc đấu tranh, thì danh mục này sẽ chỉ ra rằng: việc cử một phóng viên đến trước mặt mục tiêu của một quả bom Molotov tại Kiev vào đầu năm 2014 để anh ta có thể suy xét xem liệu bạo động có trở nên tồi tệ hơn không sẽ không làm sáng tỏ được những động lực trong cuộc đấu tranh này. Thay vì vậy, khảo sát tình trạng đoàn kết và hoạch định của phong trào, các nguồn phá hỏng kỷ luật phi bạo lực, sự tham gia dân sự đang gia tăng, tác động đang suy giảm của đàn áp lên phong trào, và liệu lực lượng an ninh có đang tuân lệnh tuyệt đối hay không, chứ chưa nói đến việc đào ngũ, sẽ cho ra một phân tích sắc sảo. Thêm vào đó là hiểu biết về sự hỗ trợ suy giảm trong cộng đồng kinh doanh và chúng ta có thể thấy rõ ràng tại sao Tổng thống Ukraine là Yanukovych bỏ chạy vào ngày 21 tháng Hai năm nay, vài giờ sau khi cuộc bạo động tồi tệ nhất do chính thể gây ra phản tác dụng. Những tiến triển như thế sẽ dễ dự đoán hơn nếu người ta nhìn vào những chỉ dấu thích hợp đã xuất hiện từ trước.

Nếu những nhà lập chính sách xem xét danh mục này vào nửa cuối năm 2011, thì họ có thể nhìn ra những cơ hội lớn hơn để chiến thắng cuộc phản kháng dân sự chống chính thể Assad tại Syria. Sự thay đổi lòng trung thành với chính thể liên tục (ngoại trừ mỗi binh lính Sunni) trong quân đội có thể xem là niềm hy vọng chiến thắng lớn lao nhất. Sự chấm dứt hỗ trợ của các thành viên thuộc cộng đồng kinh doanh là một chỉ dấu khác. Theo góc nhìn này, vào đầu năm 2012, sự cổ vũ cho Quân đội Syria Tự do chiến đấu với tàn quân Alawite của Assad sẽ được xem là nhân tố phản tác dụng, nếu không muốn nói là điềm báo cho một bi kịch.

Danh mục này cũng có thể đặc biệt hữu ích trong việc xây dựng những chuẩn mực quản trị sự hỗ trợ từ bên ngoài cho các phong trào quyền lực nhân dân bản địa. Chẳng hạn, ba khả năng đầu tiên trong danh mục dựa vào kĩ năng và có thể được tăng cường thông qua việc trao đổi thông tin mạnh mẽ. Theo Điều 19 của Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu, các nhà chuyên chế không thể giới hạn dòng chảy thông tin xuyên biên giới nước họ hay trừng phạt các công dân truyền tải thông tin ấy đến các nhà bất đồng chính kiến. Cả 6 nhân tố trong danh mục cũng có thể gợi ý suy nghĩ về các phương cách đổi mới công nghệ giúp phát triển 3 khả năng và 3 xu hướng này.

Danh mục và các cuộc đấu tranh định hình tương lai chúng ta

Những môi trường diễn ra đấu tranh phi bạo lực thì phức tạp, và những nhà phản kháng dân sự – vốn cần sự phối hợp của quần chúng để sắp xếp một chuỗi chiến thuật thành một chiến lược thắng lợi – thường kinh qua cảm giác mất phương hướng. Nỗi sợ hãi tự nhiên của họ về việc ra quyết định sai lầm với mạng sống của nhân dân và tự do bị đe dọa có thể gây nên sự thụ động mà nhà chuyên chế mong muốn, và thậm chí còn củng cố cho ảo tưởng rằng nhà chuyên chế không thể bị tổn hại.

Danh mục này có thể giúp các nhà bất đồng chính kiến vượt qua cảm giác mất phương hướng này và lèo lái con đường phía trước. Nhiều người có thể lập luận rằng: với thật nhiều biến số như thế chi phối, một danh mục kết liễu nền chuyên chế là quá giản lược, và việc đánh giá cách lập quyết định trọng yếu trong những cuộc đấu tranh tương lai đòi hỏi phải chú ý sít sao vào những nhân tố đặc thù trong bối cảnh thời gian và nơi chốn ấy.

Tuy nhiên, danh mục này không đòi hỏi phải phớt lờ những nhân tố đặc thù trong một tình huống nhất định, mà đúng hơn phải thấu hiểu những nhân tố này trong bối cảnh khung chiến lược rộng lớn hơn – cho thấy phương thức và nguyên nhân các phong trào phản kháng dân sự có thể thành công. Atul Gawande – người đã nghiên cứu tầm quan trọng của các danh mục trong nhiều bối cảnh đa dạng khác – viết rằng:

Dường như các danh mục có thể bảo vệ bất kỳ ai – ngay cả những người có kinh nghiệm – khỏi thất bại trong nhiều nhiệm vụ hơn chúng ta tưởng. Chúng cung cấp một kiểu mạng lưới nhận thức. Chúng bắt lấy những khiếm khuyết tinh thần cố hữu trong tất cả chúng ta – những khiếm khuyết về kí ức, sự chú ý và tính cẩn trọng…(19)

Trong những điều kiện thực sự phức tạp – khi kiến thức cần có vượt quá hiểu biết của bất kỳ cá nhân nào và tác động một cách khó lường… [những danh mục hiệu quả] sẽ đảm bảo nhân tố ngớ ngẩn nhưng quan trọng sẽ không bị bỏ qua, và… đảm bảo quần chúng trao đổi và phối hợp…để quản lý sắc thái và những yếu tố bất đoán theo cách tối ưu mà họ biết (20).

Danh mục này có thể không phải là chỉ dấu cuối cùng về việc phe nào sẽ thắng thế: nhà chuyên chế hay nhà phản kháng dân sự. Tuy nhiên, danh mục này có thể đóng vai trò là một tập hợp các chỉ dấu trọng yếu và liên tục để thấu hiểu phương thức những yêu cầu tự do của người công dân có thể vượt qua thành lũy của những hệ thống chuyên chế.

Danh mục tham khảo:

  1. Dựa trên nghiên cứu của Erica Chenoweth và Maria Stephan “Tại sao phản kháng dân chủ hiệu quả: Sự logic chiến lược của Phản kháng phi bạo lực”, 2011, trang 6
  2. Dựa trên 67 cuộc chuyển đổi dân chủ từ năm 1972 tới 2005 trong nghiên cứu “Tại sao Tự do chiến thắng: Từ Phản kháng dân sự tới dân chủ bền vững” của Ackerman, Peter và Karatnycky, 2015, trang số 6-7
  3. Nghiên cứu của Marchant, Eleanor, Adrian Karatnycky, Arch Puddington và Christopher Walter trong “Các môi trường cho phép các phong trào dân sự và động lực của sự chuyển tiếp dân chủ”. Báo cáo đặc biệt của Freedom House 2018, trang 1
  4. Giống nguồn tại mục 3, trang 1
  5. Giống nguồn tại mục 1, trang 6
  6. Giống nguồn tại mục 1, trang 9
  7. Giống nguồn tại mục phần 1, trang 68
  8. Giống nguồn tại mục phần 1, trang 62
  9. Chenoweth, Erica, 2014 trong tác phẩm Phản kháng dân sự và sự đáp trả của nhà chuyên chế.
  10. Giống nguồn tại mục phần 1, trang 66
  11. Thomas C.schelling,1968 : “Những câu hỏi trong phản kháng dân sự” trong sách của Harrisburg, biên tập bởi Adam Roberts: “Phản kháng dân sự như là tự vệ quốc gia: Đấu tranh phi bạo lực chống lại đàn áp”, trang 304
  12. Ackerman, Peter and Jack DuVall, 2000.Một lực lượng mạnh mẽ hơn: Một thế kỉ của phản kháng phi bạo lực, St. Martin’s Press/Palgrave, trang 30-61
  13. Giống như nguồn tại mục 1, trang 30-61
  14. Giống như nguồn tại mục 1, trang 30-61
  15. Giống như nguồn tại mục 1, trang 46-49
  16. Phim Một lực lượng mạnh mẽ hơn, 2000, Dir Steve York.York Zimmerman.
  17. Binnendijk, Anika Locke, và Ivan Marovic. 2006. Sức mạnh và sự thuyết phục: Chiến lược phi bạo jluwcj ảnh hưởng đến lực lượng bảo vệ chính quyền ở Serbia (2000) và Ukraine (2014). Nghiên cứu về cộng sản và hậu cậu sản 29, số 3 tháng 9, trang 411-429
  18. Phỏng vấn với Neboijsa, Vecernje Novosti, ngày 2/10/2010
  19. Gawande, Atul. 2009. Danh mục kiểm tra: Làm thế nào để làm đúng. New York: Picador, trang 47
  20. Giống nguồn tại mục 19, trang 79

Nguồn bài dịch:The Checklist for Ending Tyranny (Chương sách này xuất hiện trong: Mathew Burrows và Maria J. Stephan (eds.), Is Authoritarianism Staging a Comeback?, Washington, DC:  Hội đồng Đại Tây Dương, 2015.)

Comments

comments