Thế giới đang chứng tỏ Martin Luther King đúng đắn về phi bạo lực như thế nào

Cảnh sát chống bạo động ở Thái Lan đã mũ bảo hiểm và mũ bảo hiểm của họ để đoàn kết với các nhà hoạt động phi bạo lực vận động để loại bỏ chính phủ tham nhũng Shinawatra, ngày 6 tháng 12 năm 2013.

“Tôi để xứ Ấn Độ vững tin hơn bao giờ hết rằng: đấu tranh phi bạo lực chính là thứ vũ khí sắc bén nhất cho những ai bị áp bức đang trong cuộc tranh đấu vì tự do.” – “Tự truyện Martin Luther King Jr.,” biên tập bởi Clayborne Carson

Kể từ năm 2011, thế giới đã biến thành một nơi xung đột sâu sắc.  Mặc dù những cuộc nổi loạn vũ trang đã bùng nổ khắp vùng Trung Đông, Sahel và Nam Á, thế nhưng, đấu tranh dân sự mang tính bạo động lại không còn là giải pháp hàng đầu mà người dân viện đến để giải quyết những bất bình của mình. Thay vì vậy, từ Tunis cho đến Quảng trường Tahrir, từ Công viên Zuccotti cho đến Ferguson, từ Burkina Faso cho đến Hong Kong, những phong trào toàn cầu này đã noi theo những bài học từ Gandhi, King cũng như những nhà hoạt động thường nhật tại quốc nội và quốc tế để thúc đẩy sự thay đổi.

Sự đề cao của Gandhi và King vào phương pháp đấu tranh phi bạo lực cũng không tránh khỏi luồng phản biện, trong phương pháp này, người dân không dùng vũ khí mà vận dụng kết hợp các biện pháp đình công, phản đối, tẩy chay và những hành động khác để đương đầu với phe đối lập. Một số lý lẽ phản biện dựa trên lối hiểu sai về thực chất của đấu tranh dân sự, trong khi những lý lẽ khác lại nghi ngờ liệu rằng những người không được vũ trang và bị đàn áp có thể tổ chức và đương cự với đối thủ hùng mạnh.

Vào năm 2011, chúng tôi đã xuất bản một quyển sách khảo sát những câu hỏi này và đã bất ngờ phát hiện ra rằng: những chiến dịch đấu tranh phi bạo lực thành công hơn 2 lần so với các chiến dịch bạo động khi người dân nỗ lực lật đổ những nguyên thủ quốc gia chính thức của họ hay nhằm giành độc lập lãnh thổ.

Đối với nhiều người, kết luận này có vẻ ngô nghê, thế nhưng khi chúng tôi đào sâu dữ liệu, chúng tôi phát hiện những chiến dịch đấu tranh phi bạo lực thành công không phải vì chúng làm mủi lòng đối thủ. Thay vì vậy, những chiến dịch này có xu hướng thành công bởi vì các phương pháp phi bạo lực có tiềm năng lớn hơn trong việc khơi gợi sự tham gia của đại chúng – tính trung bình, chúng thu hút lượng người tham gia nhiều hơn khoản 11 lần so với một cuộc nổi dậy vũ trang trung bình – và bởi chúng là nguồn gây nên những chuyển dịch quyền lực quan trọng trong thể chế đối thủ.

Sự tham gia của đại chúng từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau có xu hướng chính danh hóa và huy động thêm các nhà cải cách, đồng thời cắt đứt nguồn hỗ trợ cho phe bảo thủ. Khi những sự tham gia như thế mang tính phi bạo lực, nó sẽ gia tăng cơ hội thu hút về phía mình sự hỗ trợ mà thể chế vốn dành cho tầng lớp lãnh đạo, giúp cho các lực lượng an ninh, tầng lớp tinh hoa về kinh tế và giới quan chức dân sự chuyển hướng lòng trung thành của mình mà bớt sợ bị trả thù đẫm máu hơn.

Nói cách khác, chúng tôi đã phát hiện đấu tranh phi bạo lực thành công không nhất thiết do tiềm năng cải cách của nó mà do tiềm năng sáng tạo, huy động và thu hút – đó là lý thuyết mà nhà sáng lập Hội Albert Einstein là Gene Sharp đã công bố suốt nhiều thập kỷ.

Hẳn nhiên, không phải mọi chiến dịch phi bạo lực đều thành công.Thế nhưng, trong những tình huống chúng thất bại, chúng tôi không thấy bằng chứng rõ ràng, mang tính hệ thống nào chứng tỏ được bạo động vũ trang sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn.

Đó là năm 2011. Bây giờ là năm 2016. (Bài viết gốc Tiếng Anh được viết vào năm2016)

Thế thì chúng ta đã học được gì về đấu tranh phi bạo lực trong 5 năm vừa qua?

Dưới đây chúng tôi phác họa một vài dữ liệu thực nghiệm chủ chốt từ lĩnh vực khoa học chính trị, trong đó có nhiều điểm gợi mở độc đáo dành cho những ai hoài nghi về hoạt động phi bạo lực.

1. Các chiến dịch phi bạo lực ngày càng phổ biến.

Nếu bạn cảm thấy chúng ta như đang sống trong một giai đoạn lịch sử suy hoại đặc biệt, thì bạn đã đúng.

Thế nhưng, đó là một dạng suy hoại độc đáo trong thời đại của chúng ta. Các sự kiện trọng yếu trong dự án Đấu tranh (một dự án về dữ liệu do Giáo sư Erica Chenoweth điều hành tại Đại học Denver) cho thấy các chiến dịch đấu tranh phi bạo lực đã trở thành hình mẫu cho hoạt động đấu tranh trên toàn cầu. Dự án Dữ liệu NAVCO – một dự án thu thập dữ liệu khác, sử dụng nguồn dữ liệu và các tiêu chí kết luận khác – cũng cho thấy các hình mẫu tương tự như vậy – giống như nhiều tập hợp dữ liệu về đấu tranh khác.

Trong khi tần suất các cuộc nổi dậy vũ trang – được giới hạn bởi ngưỡng 1000 trận đánh vũ trang – đã giảm thiểu kể từ thập niên 1970, thì các chiến dịch đặt nền tảng chủ yếu vào đấu tranh phi bạo lực lại tăng vọt.

Xin lưu ý rằng các số liệu này biểu thị riêng cho các chiến dịch của những người theo chủ nghĩa tối đa, tức mục tiêu của họ là tước quyền lực của giới nguyên thủ quốc gia chính thức hay giành lấy độc lập lãnh thổ thông qua việc ly khai, trục xuất quân đội ngoại bang đang chiếm đóng, hay thế lực thực dân.

Chỉ tính trong 5 năm đầu của thập kỷ hiện tại, chúng ta đã chứng kiến nhiều chiến dịch phi bạo lực mới xuất hiện hơn so với toàn bộ thập niên 1990, và gần như bằng với số lượng mà chúng chứng kiến suốt thập niên 2000.

Thập kỷ hiện tại của chúng ta quả đúng là thập kỷ đấu tranh mạnh mẽ nhất được ghi nhận.

2. Mặc dù phổ biến hơn, nhưng tỉ lệ thành công tuyệt đối của các chiến dịch đấu tranh phi bạo lực lại suy giảm.

Với sự tăng vọt của các chiến dịch phi bạo lực, chúng ta cũng chứng kiến một tốc độ học hỏi cao đột biến. Tỉ lệ thành công của đấu tranh phi bạo lực đạt đỉnh điểm vào thập niên 1990, thế nhưng thập niên hiện tại lại chứng kiến sự suy giảm mạnh mẽ trong tỉ lệ thành công của đấu tranh phi bạo lực. Điều này có thể do vài nguyên nhân.

Thứ nhất, các đối thủ trong chính quyền có thể học hỏi và thích nghi với những thách thức từ các tầng lớp dưới.

Mặc dù cách nay vài thập niên, họ có thể đánh giá thấp tiềm năng của sức mạnh quần chúng trong việc đe dọa mạnh mẽ đến sự cai trị của họ, nhưng giờ đây, có lẽ họ đã chứng kiến nhiều chiến dịch phi bạo lực của đại chúng trở thành mối nguy thực sự, nên họ đã dành ra nhiều nguồn lực hơn để ngăn chặn quần chúng – có thể họ đã làm theo những gợi ý từ “Sổ tay Nhà độc tài” của Bruce Bueno de Mesquita và Alastair Smith – hay triển khai phương thức “đàn áp thông minh” để tấn công khi quần chúng nổi dậy.  Hiện tượng thích nghi học hỏi này, hay theo cách gọi của Steven Heydemann – Giáo sư Ketcham tại Khoa nghiên cứu Trung Đông thuộc Cao đẳng Smith – là “chủ nghĩa toàn trị 2.0”, chính là trọng tâm của dự án “Tương lai của Chủ nghĩa toàn trị” tại Hội đồng Đại Tây Dương.

Thứ hai, các nhà hoạt động vận dụng các phương pháp đấu tranh phi bạo lực có thể học hỏi một cách sai lầm từ các đồng chí của họ trên khắp thế giới.

Chẳng hạn, dựa trên các thông tin về các cuộc biểu tình và đình công diện rộng tại Tunisia vào năm 2010 và 2011, người ta có thể nghiêng về suy nghĩ rằng: 3 tuần biểu tình là đủ lật đổ một nhà độc tài.

Tuy nhiên, cách hiểu như thế hoàn toàn bỏ quên một sự thật là: gần đây, Tunisia có một bề dày độc đáo về hoạt động đấu tranh chặt chẽ của giới lao động, nhờ đó hỗ trợ cho công cuộc nổi dậy, đồng thời, các cuộc đình công rộng rãi cũng đe dọa phá hỏng nền kinh tế Tunisia đến mức giới tinh hoa về kinh tế và kinh doanh bắt đầu từ bỏ Tổng thống Zine el-Abidine Ben Ali, tương tự như thế, các lực lượng an ninh cũng bất tuân khi ông ra lệnh tấn công người biểu tình bằng vũ khí tự động.

Thông thường, các nhà hoạt động sẽ lấy cảm hứng từ những người đồng cảnh ngộ, tuy nhiên, việc đó cũng thường kết thúc trong thất bại. Chẳng hạn, Kurt Weyland thuộc Đại học Texas chỉ ra rằng: suốt giai đoạn phong trào cách mạng bạo động mạnh mẽ nhất trên thế giới vào năm 1848, những nhà bất đồng chính kiến đã tìm cách noi theo chiến lược nổi dậy trước đó khi chống lại vương quyền Pháp, thế nhưng rốt cục, họ bị chống trả bởi những quốc vương đã chuẩn bị chu đáo hơn, trở nên tinh khéo hơn, và hẳn nhiên là loại địch thủ khác hẳn với giới quân vương Pháp.

Xuất hiện vào thời điểm cuối phong trào, những vị vua này có thể dự đoán được diễn tiến của cách mạng để đàn áp các cuộc nổi dậy và chia rẽ phe đối lập theo hướng có lợi cho họ. Hôm nay, chúng ta có thể đang chứng kiến một động lực tương tự, đặc biệt trong các giai đoạn về sau của làn sóng nổi dậy mang tầm khu vực.

3.Tuy nhiên, dù tin hay không, các chiến dịch phi bạo lực vẫn đang thành công thường xuyên hơn so với các chiến dịch bạo động.

Khi xem xét các tỉ lệ thành công tuyệt đối, các chiến dịch bạo động kém hơn nhiều so với các chiến dịch phi bạo lực kể từ năm 1960.

Quả thực, nhìn tổng thể từ 1900 đến 2015, các chiến dịch phi bạo lực thành công 51% số lần, trong khi các chiến dịch bạo động thành công 27% số lần.

Tính đến thập niên này, 30% các chiến dịch phi bạo lực đã thành công, trong khi có 12% các chiến dịch bạo động thành công – điều đó có nghĩa là quả thực, khoảng cách tỉ lệ thành công giữa chúng giờ đây đã lớn hơn mức trung bình.

4.Các lá chắn bạo động thường bất lợi cho các phong trào phi bạo lực diện rộng

Một trong các chủ đề nóng bỏng kể từ năm 2011 chính là câu hỏi liệu vận dụng một chút bạo động kết hợp cùng một chiến dịch phi vũ trang nòng cốt sẽ có lợi hay có hại cho chiến dịch phi bạo lực. Ngay tại nước Mỹ, câu hỏi này thường biểu hiện trong cuộc tranh luận về “sự đa dạng chiến thuật”. Tuy nhiên, câu hỏi về các phương pháp đấu tranh phi bạo lực, bạo động hay kết hợp mang tính phổ biến toàn cầu trong các phong trào hướng đến sự thay đổi tận gốc rễ. Mặc dù có nhiều khẳng định – cả ủng hộ và phản đối – từ các nhà quan sát, học giả cũng như các nhà hoạt động, nhưng cho tới gần đây, câu hỏi này vẫn ít được đánh giá nghiêm túc về mặt thực nghiệm đến mức khó hiểu.

Trong bài báo mới đây trên tờ “Mobilization”, Chenoweth và Kurt Schock thuộc Đại học Rutgers đã sử dụng dữ liệu so sánh để nghiên cứu lợi ích hạn chế của bạo động. Họ phát hiện ra rằng các lá chắn bạo động có thể đạt được vài mục tiêu tiến trình ngắn hạn chẳng hạn như sự chú ý từ giới truyền thông, nhận thức về sự tự vệ, sự lan tỏa văn hóa đấu tranh giúp gây nên lòng nhiệt huyết của các thành viên cốt cán nhất, hay sự phấn chấn từ khả năng “giải tỏa bức xúc”.

Thế nhưng, các lá chắn bạo động thường xói mòn các mục tiêu chiến lược dài hạn như duy trì một cơ sở huy động lực lượng ngày càng rộng rãi và đa dạng, mở rộng sự hỗ trợ từ các tổ chức thứ 3 và khơi gợi sự chuyển hướng lòng trung thành trong các lực lượng an ninh.

Họ phát hiện bằng chứng cho thấy các lá chắn bạo động thường đi kèm với tỉ lệ tham gia thấp hơn và sự tham gia mang tính chuyên biệt hơn, do đó ngay từ đầu đã xói mòn lợi thế chính của việc vận dụng đấu tranh phi bạo lực.

Một cuộc nghiên cứu tương tự khác cũng phát hiện các lá chắn bạo động có xu hướng gia tăng sự đàn áp từ phía chính quyền, điều đó thường gắn liền với tỉ lệ tham gia thấp. Như vậy, tính trung bình, các lá chắn bạo động thực sự không giúp cho các chiến dịch phi bạo lực thành công.

Omar Wasow thuộc Đại học Princeton cung cấp thêm bằng chứng về các hiệu ứng chính trị của đấu tranh phi bạo lực so với đấu tranh bạo động.Khai thác dữ liệu về các cuộc đấu tranh tại thành thị của người Mỹ da đen suốt thập niên 1960, Wasow chứng tỏ một cách thuyết phục rằng: tần suất đấu tranh phi bạo lực cao hơn dẫn đến sự ủng hộ nhiều hơn cho “quyền công dân” – giúp nó trở thành chủ đề trọng tâm của công chúng Mỹ, trong khi tần suất đấu tranh bạo động cao hơn dẫn đến sự ủng hộ nhiều hơn cho “luật lệ và trật tự” – khiến nó trở thành chủ đề trọng tâm của công chúng Mỹ.

Sau năm 1965, khi các cuộc đấu tranh bạo động trở nên phổ biến hơn, quan điểm công chúng thay đổi từ chỗ ủng hộ quyền công dân sang ủng hộ cho phản ứng của cảnh sát, điều đó cho thấy cách thức phong trào không còn mở rộng được sức huy động những lực lượng ủng hộ cốt cán nữa.

Đáng chú ý nhất, quan niệm công chúng có vai trò quan trọng không chỉ trong ngắn hạn, mà còn trong dài hạn: Wasow phát hiện ra rằng sự ủng hộ cho “luật lệ và trật tự” tương quan cao độ với số lượng phiếu bầu cho giới lãnh đạo đảng Cộng hòa, điều đó cho thấy các hệ quả của các kiểu đấu tranh khác nhau tạo nên những hiệu ứng chính trị lâu dài ở nước Mỹ.

5.Các xung đột phi bạo lực cực kỳ khó dự đoán.

Từ lâu, toàn bộ lĩnh vực xã hội học đã tập trung vào câu hỏi: khi nào thì các phong trào xã hội hay các phong trào đấu tranh xảy ra.

Các chiến dịch đấu tranh phi bạo lực theo chủ nghĩa tối đa là một thể loại hơi khác lạ, bởi chúng tiền giả định một chuỗi hành động phối hợp mang tính phá vỡ, xung đột cao độ, được huy động để chống lại một chính quyền đối lập với mục đích thay đổi đến tận gốc rễ hiện trạng ở cấp độ quốc gia.

Các nghiên cứu lượng định nguyên nhân của đấu tranh phi bạo lực đã xác định nhiều mối tương quan, chẳng hạn như: mật độ của khu vực sản xuất (Butcher & Svensson 2014), cảm xúc (Pearlman 2013), sự gần gũi về địa lý (Gleditsch & Rivera 2015) và lịch sử đấu tranh (Braithwaite, Braithwaite, & Kubik 2015).

Vào năm 2015, Chenoweth và Jay Ulfelder đã đánh giá nhiều lý thuyết tổng quát về các cuộc nổi dậy diện rộng và phát hiện chỉ có số ít các lý thuyết này dự đoán chính xác các chiến dịch phi bạo lực sẽ xảy ra tại đâu. Không giống như các chiến dịch vũ trang, các thành tựu đột biến hay sự sụp đổ chính quyền – tất cả những hiện tượng này đều được các học giả dự đoán tương đối tốt – các chiến dịch phi bạo lực diện rộng có thể xảy ra gần như tại mọi nơi vì bất kỳ nguyên nhân gì. Chúng thường xảy ra tại những khu vực mà các học giả dự đoán rất khó huy động được những người khác biệt quan điểm, và càng khó huy động một cách hiệu quả. Và hoàn toàn không thể biết được điều gì đã tạo động lực hay thu hút họ.

Chenoweth và Ulfelder kết luận rằng: các phong trào quyền lực nhân dân chỉ đơn thuần phụ thuộc vào bối cảnh và ngẫu nhiên đến độ các công cụ dự đoán và cấu trúc dữ liệu đặc trưng không thể dò ra các nguyên nhân của chúng.

Một cách diễn giải khác về phát hiện này là: những người tổ chức các cuộc nổi dậy phi bạo lực thường vượt qua các trở ngại bằng những phương thức sáng tạo vượt ngoài dự đoán, khiến chúng ta rơi vào kết luận như trên.

6. Đàn áp thách thức tất cả những chiến dịch đấu tranh nhưng không nhất thiết ấn định lựa chọn đấu tranh phi bạo lực hay kết quả của nó

Một lập luận phổ biến về đấu tranh phi bạo lực là nó có thể diễn ra và có thể thành công khi nào đối thủ của nó còn chơi đẹp. Nhưng hễ khi nào đối thủ xăn tay áo, thì đấu tranh phi bạo lực bất khả thi hay vô vọng.

Chúng tôi đã xem xét lập luận này một chút trong quyển sách năm 2011 của chúng tôi, tuy nhiên, có thêm nhiều tác phẩm gần đây cũng bàn về câu hỏi quan trọng này.

Về phương diện liệu sự đàn áp khốc liệt có ảnh hưởng đến tính khả thi của đấu tranh phi bạo lực không, Wendy Pearlman lập luận trong quyển sách xuất sắc của bà về phong trào dân tộc Palestine rằng: chỉ mỗi sự đàn áp không thể giải thích được những lý do vì sao phong trào lại chuyển từ hoạt động phi bạo lực sang bạo động. Bà lập luận rằng: ‘quả thực, sự đàn áp suốt giai đoạn phi bạo lực của cuộc nổi dậy Intifada đầu tiên vẫn khốc liệt như những giai đoạn bạo động của phong trào này. Thay vì vậy, mức độ liên kết có thể giải thích hiệu quả nhất cho sự chuyển hướng sang bạo động. Khi phong trào có được tầm nhìn chung, sự lãnh đạo và một tập hợp rõ ràng các quy định và luật lệ nội bộ, thì phong trào có thể dựa vào đấu tranh phi bạo lực bất chấp sự đàn áp liên tục từ phía chính quyền Israel’.

Các nhà nghiên cứu Jonathan Sutton, Charles Butcher và Isak Svensson cũng chỉ ra cấu trúc phong trào và sự tổ chức chính là nhân tố quyết định trọng yếu cho sự sống còn của phong trào khi đối mặt với đàn áp.

Họ sử dụng dữ liệu định lượng để lập luận rằng: khi chính quyền sử dụng bạo lực một chiều hay tàn sát diện rộng chống lại những cuộc biểu tình phi vũ trang, thì những người biểu tình chỉ có thể tiếp tục đến thành công trong dài hạn khi họ trở thành một phần của một chiến dịch được phối hợp rộng lớn hơn.

Tất nhiên, nhiều nghiên cứu nghi ngờ khả năng chống chọi của phương thức đấu tranh phi bạo lực với những chính thể đàn áp tinh vi cao độ – đặc biệt là những chính thể có tham vọng diệt chủng hay triệt tiêu những người bất đồng chính kiến.

Tác phẩm mới đây của Christopher Sullivan về hoạt động triệt tiêu có hệ thống của các lực lượng an ninh Guatemala đối với phe cánh tả đối lập trong giai đoạn từ 1975 đến 1985 là một câu chuyện đáng chú ý về tính chất tinh vi và quyết tâm của nhiều chính thể.

Chẳng hạn như cuộc giết chóc những người đấu tranh phi bạo lực một cách khốc liệt, có tính toán do chính thể Bashar al-Assad thực hiện tại Syria sau các cuộc phản kháng tại Deraa vào Tháng ba năm 2011 – đó là một lời nhắc nhở kinh hãi về lý do các chiến dịch phi bạo lực diện rộng cũng thất bại gần như ngang bằng với tỉ lệ thành công của chúng.

Tuy nhiên một lần nữa, thật khó dự đoán khi nào những bộ máy quan liêu đàn áp như thế có thể ép buộc những kẻ phụ thuộc vào chúng trung thành hoàn toàn khi đối mặt với một cuộc nổi dậy diện rộng – ngay cả trong một tình huống tưởng chừng không thể như Syria.

Hơn nữa, trong tác phẩm sắp tới, Lee Smithey, Lester Kurtz, và các cộng sự phát hiện ra rằng sự đàn áp của chính thể đối với những người biểu tình phi vũ trang thường có tác dụng ngược, bởi nó gây nên sự xúc phạm về đạo đức, kéo thêm người tham gia, thu hút sự hỗ trợ từ bên thứ 3 cho phong trào và gia tăng sự đào ngũ của lực lượng an ninh. Thực sự, những giai đoạn đàn áp thường là nguyên cớ chứ không phải hồi kết cho một chiến dịch phi bạo lực.

Sự kiện sát hại Emmett Till hiện lên trong tâm trí chúng ta như một điển hình cho giai đoạn bạo động khủng khiếp, cuối cùng gây nên sự tăng cường hỗ trợ, lòng thấu cảm và sự tham gia cho phong trào quyền công dân Mỹ.

Nhân Ngày kỉ niệm Martin Luther King Jr., chúng tôi cho rằng nên tạm biệt các độc giả bằng một đoạn văn sâu sắc trong “Lá thư từ Ngục Birmingham” của ông, “Các anh em, tôi phải nói với các anh em rằng chúng ta không thể đạt được chút thành tựu nào về quyền công dân nếu không có sức ép pháp lý mãnh liệt mang tính phi bạo lực. Buồn thay, có một sự thật lịch sử là: những nhóm đặc quyền hiếm khi tự nguyện từ bỏ đặc quyền của họ. Những cá nhân có thể nhìn ra ánh sáng luân lý và tự nguyện từ bỏ vị thế bất công của họ; thế nhưng, như Reinhold Niebuhr đã nhắc nhở chúng ta, các nhóm thường có xu hướng phi luân lý hơn các cá nhân. Qua trải nghiệm đau đớn, chúng ta biết rằng: tự do không bao giờ được những kẻ đàn áp tự nguyện ban cho; nó phải được đòi hỏi từ những người bị đàn áp.”

Rõ ràng, vẫn còn nhiều thứ khác phải học về đấu tranh phi bạo lực: đó là một hiện tượng mới nổi, và nghiên cứu về chủ đề này cũng mới nổi lên trong phạm vi khoa học xã hội. Những ai đang nỗ lực đối đầu với đàn áp có thể hưởng lợi từ sự nghiên cứu hệ thống hơn về phương diện khi nào và làm thế nào để tiến hành đấu tranh phi bạo lực trong những bối cảnh đa dạng. Những nhà lập chính sách đang đối mặt với những thử thách như: khôi phục lại quyền toàn trị, tính mong manh của chính quyền, cho đến chủ nghĩa bạo động cực đoan có thể hưởng lợi từ sự hiểu biết sâu sắc hơn về phương diện khi nào và tại sao những phong trào phi bạo lực lại thành công – và hỗ trợ các phong trào này một cách hiệu quả có nghĩa là gì.

Trong thập kỷ này – khi có nhiều người vận dụng đấu tranh phi bạo lực hơn bao giờ hết – các học giả cũng như những nhà hoạt động có thể tham khảo hiệu quả trí tuệ thực dụng và nguyên lý của Gandhi và King để xây dựng con đường đi tới.

Erica Chenoweth là giáo sư tại Trường Josef Korbel thuộc Khoa Nghiên cứu Quốc tế tại Đại học Denver.  Bà đồng quản trị trang blog Political Violence @ a Glance và là một blogger không thường xuyên tại The Monkey Cage.  Maria J. Stephan là một thành viên cao cấp tại Học viện Hòa bình Mỹ và là một thành viên cao cấp không thường trực tại Hội đồng Đại Tây Dương.

Nguồn bài dịch từ Washingtonpost: How the world is proving Martin Luther King right about nonviolence

Nguồn ảnh bìa: nonviolentliberationstrategy.files.wordpress.com

Comments

comments