Hãy bước ra khỏi đám đông: Những bài học từ cuộc chiến chống Phát xít Đức

 

Một ai đó sẽ phải can đảm bước ra khỏi đám ông bởi vì làm những gì người khác vẫn làm, thì thật đơn giản.

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc tại châu Âu, người dân thế giới ngưỡng mộ các huyền thoại chống lại Hitler và chủ nghĩa Đế quốc. Thế nhưng trong các năm 30, nhiều người ngưỡng mộ Hitler. Thậm chí, năm 1940, đại đa số người dân châu Âu chấp nhận quyền lực đang lên của Đức phát xít.  Charles Lindbergh và một số người Mỹ có ảnh hưởng lớn thậm chí đã phản đối việc tham chiến dưới khẩu hiệu “America First” – “Nước Mỹ trước tiên”.

Winston Churchill – Thủ tướng Anh

Trước khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, một loạt các nước ở châu Âu đã thỏa hiệp với Đức quốc xã. Vào năm 1922, nước Ý, đồng minh quân sự của Đức, đã trở thành nhà nước phát xít đầu tiên. Hungary, Romania, Bulgary đã rơi vào vùng ảnh hưởng của Đức bởi các lời hứa hẹn về thương mại và lãnh thổ. Năm 1938, Áo bị sát nhập vào Đức mà không một cường quốc nào lên tiếng bênh vực.

Tháng 5/1940, khi Winston Churchill lên làm Thủ tướng, Vương quốc Anh hoàn toàn chỉ có một mình. Họ không chiến thắng nào đáng kể, và chẳng có đồng minh quan trọng nào để có thể nhờ cậy.

Adolf Hitler không có hận thù gì đặc biệt với nước Anh, thậm chí ông ta còn hình dung rằng người Đức và người Anh sẽ cùng phân chia thế giới. Ông ta nghĩ, Churchill sẽ chấp nhận đàm phán sau khi nước Pháp thất thủ. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Churchill đã tuyên bố với người Pháp “cho dù các bạn giữ thái độ như thế nào đi chăng nữa, chúng tôi sẽ chiến đấu, chiến đấu và tiếp tục chiến đấu”.

Tháng 6/1940 Churchill phát biểu trước Quốc hội Anh “Cuộc chiến đấu để cứu nước Anh bắt đầu”. Không quân Đức bắt đầu ném bom các thành phố của nước Anh. Hitler trông đợi, chiến dịch này sẽ buộc Churchill phải ký hòa ước. Ông ta đã nhầm. Sau này, Churchill đã coi quãng thời gian của các trận không kích này là “quãng thời gian, mà sống hay chết đều tốt đẹp như nhau”. Ông nói về “tinh thần bất khuất của người Anh, mà ông được vinh dự làm người phát ngôn”.

Trong thực tế, ông chính là người đã góp phần lớn công sức để người Anh được ghi nhận như một dân tộc hiên ngang đã bình thản đứng lên đương đầu với cái ác. Một chính trị gia khác có lẽ sẽ dễ dàng tìm được sự ủng hộ của công luận tại Anh để kết thúc chiến tranh bằng thỏa thuận với Đức quốc xã. Churchil hành động, trong khi những người khác thì ngồi yên. Ông không chịu đầu hàng ngay từ đầu, ngược lại, ông đã buộc Hitler phải thay đổi kế hoạch.

Tháng 6/1941, trong điều kiện chiến tranh vẫn tiếp diễn tại Anh, nước Đức đã tấn công đồng minh Xô viết của mình. Vì thế Đức buộc phải chiến đấu trên cả hai mặt trận và Moscow trở thành đồng minh của London một cách không ngờ.

Tháng 12/1941, Nhật hoàng ném bom căn cứ của Hoa Kỳ tại Hawai, Hoa Kỳ bước vào cuộc chiến. Moscow, Washington, London hợp thành một liên minh không bất khả chiến bại. Liên minh này cùng nhiều đồng minh khác nhỏ hơn, đã chiến thắng trong thế chiến thứ II.

Nếu như vào năm 1940 Churchill không giữ nước Anh trong điều kiện chiến tranh, thì sẽ chẳng có lý do để người Anh phải chiến đấu… Churchill đã tuyên bố lịch sử sẽ rộng lòng với ông, bởi ông quyết tâm tự mình viết nên lịch sử – tuy nhiên trong các dẫn giải bao quát, đầy tính lịch sử và trong các hồi kí, ông  nói các quyết định của mình là tất yếu và mọi chiến công ông đều ghi danh cho nhân dân và các đồng minh của nước Anh.

Từ góc nhìn của ngày hôm nay, việc làm của Churchill co thể là bình thường. Nhưng trong thời điểm đó ông đã bước ra khỏi đám đông.

Teresa Prekerowa– Nhà lịch sử học

Teresa Prekerowa năm ấy lẽ ra phải tốt nghiệp trung học, đã buộc phải ra khỏi Varsava, thủ đô Ba Lan và sống tại nhà trọ sau khi bị quân Đức tịch thu hết tài sản của gia đình, cha bị bắt, một người chú hy sinh, hai người anh bị giam giữ trong trại tù binh của Đức. Varsava bị tàn phá nặng nề trong các đợt không kích của Đức, khiến khoảng 25 000 người tử vong.

Trong hoàn cảnh kinh hoàng ấy, cô gái trẻ Teresa hành xử khác với các bạn bè và họ hàng của mình. Khi mà bình thường người ta chỉ nghĩ đến mình, thì cô nghĩ đến những người khác.

Trong khoảng nửa sau của năm 1940, quân Đức bắt đầu thiết lập Ghetto (Khu người Do Thái) tại Ba Lan và buộc người Do Thái tại Varsava và vùng lân cận nhận chuyển đến các khu đó. Trước chiến tranh, một trong những người anh của Teresa, có yêu một cô gái Do Thái và qua lại với gia đình của cô. Nay Teresa nhận thấy mọi người lẳng lặng quay lưng lại những người bạn Do Thái của mình.

Không nói gì với gia đinh, và chấp nhận rủi ro rất lớn cho chính mình, Teresa đã nhiều lần thâm nhập vào Ghetto tại Varsava với thực phẩm và thuốc cho những người Do Thái mà cô biết và cả những người cô không hề quen biết.

Cuối năm 1940, cô thuyết phục được người bạn gái của anh trai bỏ trốn. Năm 1942, cô giúp gia đình cô gái ấy và một người anh của mình trốn trại.

Mùa hè năm 1942, quân Đức thực hiện kế hoạch Grosaktion Warschau, trong chiến dịch này họ trục xuất 265.040 người dân từ Ghetto đến cỗ máy giết người hàng loạt tại Treblince và 10.380 người đã bị giết hại tại chỗ. Teresa đã cứu được một gia đình thoát khỏi cái chết cầm chắc trong tay.

Sau này Teresa Prekerowa bắt đầu nghiên cứu sâu về Holocaust một cách hàn lâm và bà viết các bài báo mang tính chuyên môn về Ghetto tại Varsava và về cả những người đã cưu mang người Do Thái. Nhưng bà không hề viết về mình.

Nhiều năm sau, khi người ta đề nghị bà nói về cuộc sống của chính bà, bà coi những hành động này là những điều bình thường. Nhưng từ góc nhìn của chúng ta, cách hành xử của bà là điều thật phi thường. Bà đã bước ra khỏi đám đông.

Winston Churchill và Teresa Prekerowa – những người mà ngày hôm nay chúng ta tưởng nhớ và khâm phục lúc bấy giờ đã bị coi là ngoại lệ, là lập dị, hay thậm chí là những kẻ điên rồ. Họ là những con người không đổi thay với những hành động vượt lên đám đông, mặc dù thế giới xung quanh họ thay đổi về cách nhìn.

Hành động khác với số đông có thể làm bạn thấy lạ lẫm. Thế nhưng, không có đột phát ấy thì khó có tự do. Một khi bạn làm gương, lời nguyền mang tên – Status quo – giữ nguyên trạng- sẽ bị phá vỡ và những người khác sẽ theo đi theo bạn.

Tác giả: Timothy Snyder là giáo sư sử học của trường Yale, và thường được mời giảng tại các trường như LSE, College of Europe. Ông là tác giả chuyên về lịch sử Đông Âu và Holocaust. Ông tiếp xúc với nhiều nguồn tư liệu nhờ khả năng đọc hiểu 10 ngoại ngữ. Vì thế các cuốn sách của ông thường có tiếng vang đặc biệt. Cuốn sách mới nhất của ông có tên “Hai mươi bài học của thế kỷ XX” xuất bản đầu năm nay 2017, gồm các bài học được ông rút ra từ lịch sử châu Âu, tuy nhiên tính thực tiễn của nó không chỉ dừng lại trong phạm vi châu Âu. Bài lược dịch trên là 1 trong số 20 bài học ấy.

Nguồn ảnh trong bài: funny-pictures.picphotos.net

Comments

comments