Làm thế nào để phát triển lập trường phản biện?

Minh họa về suy nghĩ để có lập trường phản biện. Nguồn ảnh: https://globaldigitalcitizen.org

Phát triển lập trường phản biện – khả năng và phẩm chất tổng quát để áp dụng tư duy phản biện vào bất cứ điều gì bạn gặp phải – là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc giảng dạy tư duy phản biện. Nó bao gồm việc nhận ra các giả định ngầm – của chính bạn và những người khác – rồi áp dụng để chất vấn lại những thông tin và tình huống, và xem xét bối cảnh của chúng.

Nhận ra các giả định. Mỗi chúng ta có một tập hợp các giả thuyết – ý tưởng hay thái độ hoặc “sự kiện” mà chúng ta coi là đương nhiên – làm nền tảng cho tư duy của chúng ta. Chỉ khi nào bạn sẵn lòng xem xét chính những giả định này và nhận ra cách mà chúng ảnh hưởng tới những kết luận của bạn thì bạn mới có thể xem xét được các hoàn cảnh, vấn đề hoặc sự việc thật khách quan.

Các giả định thường được dựa trên một số yếu tố – vật chất, môi trường, tâm lý và kinh nghiệm – mà chúng ta tự động, và thường là vô thức, gán cho bất cứ điều gì mà chúng ta nghĩ đến. Một trong những bước đầu tiên để khuyến khích lập trường phản biện là cố gắng làm cho những yếu tố này hiện ra rõ trong đầu, thoát khỏi miền vô thức. Ngoài các phương pháp như thảo luận trực tiếp, nhập vai, thì thảo luận về những hoàn cảnh thực tế, tương đối không mang tính đe dọa, hoặc để người dạy tự gợi mở (“Một vài giả định của chính tôi là…”) – đều có thể là cách giúp mọi người tư duy về những định kiến mà họ đang mang trong đầu.

Nguồn gốc sinh ra những mặc định thì nhiều và chồng chéo, nhưng quan trọng nhất là:

  • Giác quan. Tác động của các giác quan mạnh đến nỗi chúng ta đôi khi phản ứng với nó mà không nhận ra rằng chúng ta đang làm như vậy. Chẳng hạn bạn có thể phản ứng với một người dựa trên mùi hương – đó là một phản ứng vô thức.
  • Kinh nghiệm. Mỗi người chúng ta đều có một tập hợp riêng có của các kinh nghiệm, và chúng ảnh hưởng đến các phản ứng của chúng ta đối với những gì chúng ta gặp phải. Trên hết, như những nhà tư duy phản biện, chúng ta phải nắm được cả cách mà trải nghiệm trong quá khứ có thể hạn chế tư duy của chúng ta trong một hoàn cảnh, và cách chúng ta có thể sử dụng nó để nhìn thấy sự vật rõ ràng hơn.
  • Giá trị. Giá trị là những niềm tin sâu sắc – thường được học từ gia đình, nhà trường, và bạn bè đồng trang lứa – về tình trạng đáng mong muốn của thế giới này. Những niềm tin này có thể khó nhận ra được, chưa nói đến việc bác bỏ. Nó làm phức tạp thêm các vấn đề mà thường là cốt lõi trong cuộc sống của chúng ta: các mối quan hệ cá nhân và tính dục, đạo đức, giới tính và vai trò xã hội, chủng tộc, giai cấp, và cách tổ chức xã hội, v.v.
  • Cảm xúc. Việc nhận ra những phản ứng mang tính cảm xúc của chúng ta là rất quan trọng để ngăn chúng không làm ảnh hưởng đến các kết luận của chúng ta. Chẳng hạn, khi quá giận dữ đối với những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em, chúng ta có thể sẽ không hiểu vấn đề rõ ràng. Chúng ta không thể kiểm soát được việc cảm xúc có trỗi dậy, nhưng chúng ta có thể biết được cách phản ứng lại chúng.
  • Tính tư lợi. Dù thích hay không, mỗi người chúng ta vẫn thường để yếu tố tư lợi, tức là những gì có lợi nhất cho mình, chi phối quyết định của mình. Chúng ta phải biết được khi nào thì sự tư lợi có thể cản trở lý trí, hay cản trở việc xem xét tới các lợi ích khác trong hoàn cảnh này.
  • Văn hóa. Nền văn hoá mà chúng ta lớn lên trong đó, nền văn hoá mà chúng ta tiếp nhận, nền văn hoá chủ đạo trong xã hội – tất cả đều ảnh hưởng đến chúng ta, và thúc đẩy chúng ta tư duy theo những cách cụ thể. Hiểu được văn hóa tác động lên tư duy của chúng ta và của những người khác sẽ làm cho chúng ta có thể xem xét một vấn đề hoặc sự việc theo một cách khác.
  • Lịch sử. Lịch sử cộng đồng, lịch sử của tổ chức hoặc sáng kiến ​​của chúng ta, và lịch sử của chính chúng ta trong việc xử lý các vấn đề và sự việc cụ thể đều sẽ tác động đến cách chúng ta suy nghĩ về tình hình hiện tại.
  • Tôn giáo. Nền tảng tôn giáo của chúng ta – dù chúng ta có thực hành tôn giáo đó nữa hay không – có thể tác động đến tư duy của chúng ta mạnh hơn là những gì chúng ta nhận ra.
  • Thiên hướng, thiên vị. Sự thực là, hầu như ai trong chúng ta cũng đều mang một thành kiến nào đó ​​về chủng tộc hay sắc tộc, hay một thiên hướng ​​về chính trị, đạo đức …sẽ can thiệp vào quá trình tư duy của mình.
  • Tri thức có từ trước. Cái mà chúng ta biết về một vấn đề hoặc sự việc, từ kinh nghiệm cá nhân, từ các đối tác cũ, hoặc từ lý thuyết, hình thành nên phản ứng của chúng ta đối với nó. Tuy nhiên, chúng ta phải chắc chắn rằng cái mà chúng ta “biết” thực tế là đúng, và có liên quan đến sự việc chính mình đang quan tâm.
  • Trí tuệ thường thức (Conventional wisdom) Tất cả chúng ta đều có một kho thông tin rộng rãi “mọi người đều biết” mà chúng ta áp dụng vào các hoàn cảnh và vấn đề mới. Tiếc rằng việc ai cũng biết nó lại không có nghĩa là nó đúng. Trí tuệ thông thường lại thường là “quá thông thường”: nó thường phản ánh cách quan sát sự vật đơn giản nhất. Có lẽ chúng ta cần bước ra khỏi những cái thông thường để tìm kiếm các giải pháp mới.

Trường hợp minh họa điển hình là khi mọi người phàn nàn rằng “lẽ thường/cái thường thức” sẽ khiến cho giải pháp của một vấn đề trở nên hiển nhiên. Chẳng hạn nhiều người tin một cách hiển nhiên, theo lẽ thường, là các khóa học giáo dục giới tính cho tuổi teen (thanh thiếu niên từ 13-19 tuổi) sẽ khuyến khích bọn trẻ quan hệ tình dục. Tuy nhiên, số liệu thống kê cho thấy thực tế thanh thiếu niên được trang bị kiến thức tình dục đầy đủ lại có khuynh hướng ít sinh hoạt tình dục hơn so với những bạn cùng lứa thiếu kiến thức về lĩnh vực này.

Hãy kiểm tra lại thông tin về độ chính xác, các giả định, thiên vị, hoặc những tư lợi. Việc giúp đỡ học viên thảo luận và đưa ra các loại câu hỏi mà họ cần để đưa thông tin đến hẳn là cách tốt nhất để tạo điều kiện thuận lợi ở đây. Việc sử dụng các minh hoạ hiện tại – chẳng hạn như so sánh các bài báo và tin tức truyền hình khác nhau để biết những khía cạnh khác nhau nào được nhấn mạnh, hoặc để biết tất cả mọi người bỏ qua cũng những vấn đề đó ra sao – cũng có thể là một phương cách mạnh mẽ chứng minh điều cần được hỏi. Sau đây là một số câu hỏi cơ bản:

  • Nguồn của thông tin là gì? Việc biết được thông tin bắt nguồn từ đâu có thể cho bạn biết rất nhiều về những điều mà nó muốn làm bạn tin.
  • Nguồn này nói chung có tạo ra thông tin chính xác không?
  • Các giả định của nguồn gốc về vấn đề hay sự việc là gì? Nguồn này có một lợi ích đặc biệt hay thuộc về một nhóm cụ thể mà sẽ cho phép bạn hiểu được điều mà nó tin tưởng về sự việc mà thông tin đề cập đến hay không?
  • Nguồn đó có các thiên vị hoặc mục đích có thể làm cho nó ngả thông tin theo một cách cụ thể hay nói dối trắng trợn? Các chính trị gia và các cuộc vận động chính trị thường “quay vòng” thông tin sao cho nó có vẻ đứng về phía họ và lập trường của họ. Mọi người trong cộng đồng cũng có thể làm y như thế.
  • Có người nào cụ thể được lợi hay thua thiệt nếu thông tin được chấp nhận hoặc loại bỏ? Nó vì lợi ích của ai nếu thông tin đó được lấy theo giá trị bề ngoài?
  • Thông tin có đầy đủ không? Có bị thiếu phần nào quan trọng không? Nó có cho bạn biết mọi thứ bạn cần biết không? Nó dựa trên dữ liệu đầy đủ để là chính xác phải không?

Việc có được toàn bộ thông tin có thể tạo ra sự khác biệt rất lớn. Thông tin của bạn có thể là: có một cách tiếp cận nhất định cho cùng một sự việc này đã có tác dụng tốt trong một cộng đồng tương tự. Tuy nhiên, điều mà bạn có lẽ không biết hoặc không nghĩ sẽ hỏi là liệu có hay không một lý do mà cũng cách tiếp cận đó sẽ không có tác dụng trong cộng đồng này. Nếu bạn tiến hành điều tra, có thể bạn thấy nó đã được thử và thất bại vì các lý do mà sẽ làm nó sụp đổ một lần nữa. Bạn sẽ cần toàn bộ thông tin trước khi bạn giải quyết được vấn đề một cách hợp lý.

  • Thông tin có nhất quán, hợp logic không? Nó có ý nghĩa gì không? Các luận cứ có thực sự chứng tỏ điều mà chúng vờ chứng minh? Việc học cách sắp xếp các luận cứ hợp lý và mạnh mẽ từ những thứ không nhất quán hoặc vô nghĩa có lẽ là nhiệm vụ vất vả nhất đối với học viên. Một số chiến thuật có thể sử dụng như tổ chức các cuộc tranh luận mô phỏng, trong đó những người tham gia phải đưa ra các lập luận cho bên phía mà họ đang bất đồng; phân tích các chương trình truyền hình thời sự, đặc biệt là các chương trình như “Meet the Press” (Gặp gỡ báo chí), nơi các nhân vật chính trị bảo vệ lập trường của mình.

Hầu như ai cũng có thể đưa ra ví dụ “chứng minh” được một điểm cụ thể: Có một phụ nữ ở cách một toà nhà có sự gian lận về phúc lợi, nên rõ ràng là hầu hết những người nhận phúc lợi đều gian lận. Bạn không thể tin tưởng các thành viên của nhóm dân tộc đó, vì một trong số họ lấy trộm ví của tôi.

Không một ví dụ nào trên đây “chứng minh” được điều gì cả, bởi vì nó chỉ dựa trên một ví dụ, và không có lý do hợp lý để cho rằng nó có hiệu lực với một nhóm lớn hơn. Nếu không có thông tin nhất quán hợp lý và ít nhất là gần như đầy đủ, bạn không thể rút ra được kết luận có ích để giúp giải quyết hiệu quả vấn đề.

  • Thông tin có rõ ràng không? Bạn có hiểu những gì bạn đang nhìn thấy không?
  • Thông tin có liên quan đến tình hình hiện tại không? Thông tin có thể chính xác, hoàn chỉnh, nhất quán lô-gic, có sức hút… nhưng lại không có ích lợi gì, vì nó không liên quan gì đến những gì bạn đang cố gắng giải quyết.

Ví dụ, một sáng kiến ​​phòng chống AIDS có thể nhận ra một khu phố cụ thể có một số lượng lớn những người đồng tính. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ HIV dương tính trong cộng đồng người đồng tính là gần như bằng không, và vấn đề AIDS thực sự ở thành phố nằm trong số những người sử dụng ma túy, thì địa điểm của cộng đồng đồng tính đó là thông tin không liên quan.

  • Điều quan trọng nhất là thông tin có đúng không? Những lời nói dối trắng trợn và những “sự kiện” hư cấu không phải hiếm gặp trong chính trị và lĩnh vực công tác cộng đồng, v.v. Việc hiểu biết nguồn gốc và các lợi ích của nó, về hoàn cảnh, và thái độ hoài nghi nhạy bén có thể giúp bảo vệ học viên khỏi các thông tin sai lạc.

Hãy cân nhắc bối cảnh của thông tin, vấn đề hoặc sự việc. Việc xem xét bối cảnh, trong hầu hết các trường hợp, là dễ tiếp cận hơn so với các yếu tố khác của lập trường phản biện. Nó liên quan đến thông tin cụ thể và khách quan hơn, và, ít nhất trong trường hợp của các sự việc mang tính cộng đồng, nó thường là thông tin mà học viên đã biết từ trước.

Các kỹ thuật trợ giúp có thể bao gồm: động não (brainstorming) để xác định các yếu tố tạo ra bối cảnh; thảo luận về những sự việc bối cảnh ảnh hưởng như thế nào đến những hoàn cảnh thực tế mà học viên quen thuộc; và yêu cầu các nhóm nhỏ học viên tạo ra các thí dụ của chính họ. Nhiệm vụ đích thực là bảo đảm rằng chúng gồm càng nhiều yếu tố khác nhau càng tốt. Chẳng hạn như một số lĩnh vực cần được kiểm tra khi xem xét một vấn đề của cộng đồng là:

  • Tính chất của cộng đồng. Một thành phố lớn có khả năng trình bày các giải pháp khác nhau cho một vấn đề hơn một thành phố nhỏ, và cả hai đều khác so với một vùng ngoại ô hoặc nông thôn. Việc hiểu được các nguồn lực, thách thức, và những nét đặc thù của một cộng đồng là điều quan trọng để giải quyết các vấn đề của nó.
  • Tình hình xã hội. Một cộng đồng có thể được chia tách ra giữa một số nhóm tộc người hoặc nhóm chính trị đối nghịch nhau, hoặc giữa các nhóm mà chỉ đơn giản khác nhau về ý tưởng về cách thức mà mọi việc nên được thực hiện. Có thể có các vấn đề về giai tầng, tộc người, hoặc các sự việc khác cần giải quyết.
  • Cá nhân. Cá nhân có thể làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến các công việc của một cộng đồng, thường theo những cách không rõ ràng ngay. Mọi người có thể phổ biến hoặc ngăn chặn tin đồn, tạo ra sự hòa thuận hay bất hòa, hướng những người khác đến các giải pháp mang tính xây dựng hoặc đến sự tan rã của tổ chức và tính không hiệu quả.
  • Văn hoá. Văn hoá – thứ mà có thể dựa trên các ràng buộc về tộc người, tôn giáo, tầng lớp, hoặc các yếu tố khác (hãy nghĩ đến các môn thể thao, trẻ tuổi, giàu có, nhạc punk, trượt pa-tanh, và các nhóm khác trong một trường trung học) – có thể tạo ra các liên minh hoặc các tổ nhóm khác nhau, và ảnh hưởng nặng nề đến cách các nhóm khác nhau xem xét một vấn đề và hàm ý của nó.
  • Môi trường vật lý. Một khu phố đổ nát đầy rác rưởi có thể tạo ra sự tuyệt vọng và sợ hãi. Việc thay đổi bộ mặt của khu phố đó có thể làm thay đổi tình trạng của những người sống ở đó rất nhiều, tạo cho họ niềm hy vọng và tự hào về việc sở hữu nó cũng như giảm thiểu bạo lực và tội ác bằng cách tăng thêm ánh sáng và đường sá đến khu phố. Vai trò của môi trường vật chất là điều cần được nghiên cứu trong bất kỳ việc nào của cộng đồng.
  • Lịch sử. Điều thiết yếu là phải xem lại lịch sử của một vấn đề hoặc sự việc, cũng như những nỗ lực để giải quyết nó. Giải pháp hoàn hảo mà bạn vừa đưa ra có thể đã kết thúc trong thảm họa cách đây 5 năm. Người mà bạn phụ thuộc vào để giải thích hoàn cảnh có thể đã từng có vai trò nổi trội ở một bên của một cuộc xung đột lớn, và sự có mặt của người đó có thể khiến bất kỳ người nào ở phía bên kia muốn tránh xa. Những cảm giác tồi tệ qua những sự coi thường thực sự hoặc cảm nhận được hay tính không trung thực có thể tồn tại hàng chục năm, và nếu bạn không biết gì về chúng, chúng có thể nổi lên bất thình lình. Không những có được lịch sử, mà còn có được nó từ một số quan điểm đánh giá khác nhau, là cần thiết để thành công trong việc xử lý mọi vấn đề hoặc sự việc.

Một nhóm cố gắng đưa phương tiện giao thông công cộng vào một vùng nông thôn đã bắt đầu bằng việc tổ chức một cuộc họp giữa các ban chọn lọc của các thành phố liên quan và cơ quan quản lý vận chuyển của các địa phương đó. Điều mà nhóm không biết là vài năm trước đã có một công ty vận tải nhỏ, phi lợi nhuận – vị chủ tịch của ban đó là một nhân vật được kính trọng của địa phương – đã bị ngừng kinh doanh qua một số giao dịch ám muội bởi cơ quan quản lý vận chuyển của địa phương đó. Kết quả là các thị trấn đã từ chối giao dịch với cơ quan quản lý vận chuyển đó, mặc dù bây giờ nó nằm dưới quyền quản lý của những người hoàn toàn mới và liêm chính.

  • Các lợi ích liên quan. Nếu có xung đột, thì các nhu cầu và mục tiêu của các phe phái khác nhau là gì? Ai sẵn sàng được, và ai sẵn sàng mất? Các lợi ích tốt nhất của cộng đồng là gì – hoặc bạn có thể xác định được tất cả không?

Nguồn bài dịch và biên tập:Thinking Critically

Comments

comments