Lãnh đạo dựa trên các chuẩn mực đạo đức (Phần 2)- Thực hành như thế nào?

Mặc dù phần này đề cập tới khái niệm “lãnh đạo” như là những người đứng đầu của tổ chức, các nhóm sáng kiến và cộng đồng, nhưng chúng tôi thừa nhận rằng bất cứ ai cũng có thể đảm nhiệm vai trò lãnh đạo ở một thời điểm nào đó. Câu hỏi về sự lãnh đạo theo chuẩn mực đạo đức không chỉ được đặt ra bởi những người mang chức vị lãnh đạo chính thức (như giám đốc, điều phối viên, chủ tịch, v.v). Dù có một số khác biệt nhỏ, những nguyên tắc của sự lãnh đạo theo chuẩn mực đạo đức cũng có thể dùng làm cho kim chỉ nam cho việc sống đạo đức. Ví dụ, đặt lợi ích công lên trên lợi ích tư – là một trong những cách định nghĩa về sự cao thượng trong hầu hết mọi xã hội. Vì thế, nội dung của phần này hướng tới không chỉ những người được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, mà dành cho tất cả mọi người.

Hầu hết mọi người đều không phải là lãnh đạo ngay từ lúc sinh ra, mà họ dần trở thành như vậy thông qua cả 1 quá trình trải nghiệm và khổ luyện. Tương tự, những người có đạo đức, kể cả rất thánh thiện, cũng phải trải qua quá trình liên tục thực hành sự lãnh đạo theo chuẩn mực đạo đức. Ở đây, chúng tôi xin nêu ra một vài nguyên tắc chung cho sự lãnh đạo theo chuẩn mực đạo đức, và sau đó xem xét kỹ hơn những đòi hỏi đối với một người lãnh đạo có đạo đức.

Sự lãnh đạo có đạo  đức đòi hỏi một nền tảng đạo đức rõ ràng và nhất quán mà người lãnh đạo dựa vào khi ra quyết định và hành động.

Một nền tảng triết học và đạo đức nhất quán không phải là thứ mà một người có thể đạt được trong một sớm một chiều. Nó phát triển theo thời gian, dựa trên bề dày kinh nghiệm, sự học hỏi, và cả những tấm gương mà mình chịu ảnh hưởng. Nói cách khác, bộ khung giá trị đạo đức của bạn được xây dựng từ tất cả những gì đã và đang tạo nên con người bạn ngày hôm nay.

Điều này không có nghĩa là lai lịch cá nhân của bạn phải bao gồm thật nhiều những chỉ dẫn về đạo đức, hoặc kể cả những tấm gương sáng về hành xử đạo đức. Đối với một số người, các tiêu chuẩn đạo đức lại nảy sinh theo chiều hướng ngược lại những gì họ đã chứng kiến và trải nghiệm. Đối với những người khác, sự trưởng thành của họ gắn liền với những giáo huấn văn hóa hoặc tôn giáo, hoặc sự nghiên cứu học thuật trong các lĩnh vực như triết học, lịch sử, tâm lý hoặc văn học. Đối với phần lớn chúng ta, một nền tảng đạo đức có thể là sự kết hợp của một vài trong các yếu tố đó, và cả những yếu tố khác nữa.

Nền tảng đạo đức là cần thiết vì nó đóng vai trò kim chỉ nam cho những lựa chọn có liên quan tới đạo đức của chúng ta. Nội dung của nó (những tiêu chuẩn thực tế mà mỗi người đều bám vào) thì có thể mỗi người một khác, và khác biệt tùy theo hoàn cảnh. Quan trọng là: có một nền tảng đạo đức sẽ giúp bạn có cơ sở để đưa ra những quyết định khó khăn về đạo đức, hơn là việc khi có một vấn đề cần giải quyết thì đều phải tự mình bơi trong đống hỗn độn. Điều này giống như là xây nhà từ một bản vẽ chi tiết, so với việc xây một cách chắp vá từ những ý tưởng bột phát.

Nhiều tình huống hoặc vấn đề sẽ không có giải pháp đơn giản, hoặc thậm chí là giải pháp thỏa đáng. Tình huống ở phần một của bài viết này– đóng cửa một chi nhánh để duy trì chương trình khi gặp phải cắt giảm ngân sách – là một trong những tình huống mà bất kể quyết định nào được đưa ra, thì vẫn sẽ có người chịu thiệt hại. Một nền tảng đạo đức nhất quán có thể sẽ không giúp bạn nhìn ra được một lựa chọn rõ rệt nào, nhưng sẽ chỉ ra những yếu tố mà bạn phải cân nhắc, và giúp bạn lọc ra thứ nào quan trọng hơn. Quá trình đó vẫn sẽ buộc bạn phải xoay xở với nhiều lựa chọn, và không có phương án nào là hoàn toàn dễ chịu. Suy cho cùng, các quyết định khó khăn được đưa ra không phải bởi những mô thức về đạo đức, mà bởi con người, dựa trên tổng hòa của những tiêu chuẩn đạo đức và cảm xúc cá nhân, cộng với ý kiến của người khác.

Một bộ khung giá trị đạo đức được coi là hữu dụng cần có các đặc điểm sau:

Nhất quán nội tại: Tất cả các nguyên tắc nằm trong bộ khung này không được mâu thuẫn với nhau.

Tích cực: Bộ khung này phải cho mình biết việc gì cần phải làm, chứ không phải chỉ là những gì không được làm.

Linh hoạt: Bộ khung này cần được xét lại thường xuyên và điều chỉnh để thích ứng với sự thay đổi trong tư duy của bạn.

Việc có một nền tảng như vậy không tự động biến bạn thành một nhà lãnh đạo có đạo đức, nhưng giúp bạn phát triển thành một người có đạo đức, và đó là yếu tố cần thiết để trở thành người lãnh đạo theo chuẩn mực đạo đức.

Khung giá trị đạo đức của bạn phải tương thích với khung đạo đức, sứ mệnh và tầm nhìn của tổ chức hoặc nhóm sáng kiến.

Nếu bạn không đồng thuận với lập trường đạo đức của tổ chức, thì ngay từ đầu, bạn không nên nhận công việc đó. Ví dụ: Một tổ chức coi tính hợp tác trong quá trình ra quyết định và sự bình đẳng về địa vị là nguyên tắc đạo đức – thì không thể được dẫn dắt bởi một người thực sự tin rằng nghĩa vụ đạo đức của người đó là ra quyết định thay cho mọi người.

Một ngoại lệ ở đây là khi bạn được thuê để tạo ra thay đổi trong khung giá trị đạo đức hoặc văn hóa của tổ chức. Điều này có thể xảy ra nếu người tiền nhiệm đã tỏ ra rất thiếu đạo đức – lạm dụng công quỹ, ngược đãi hoặc khinh thị nhân viên – và bầu không khí của tổ chức cần sự thay đổi căn bản. Trong trường hợp đó, bạn được kỳ vọng phải làm gương và đưa vào trong tổ chức một bộ các chuẩn mực đạo đức hoàn toàn mới, nhằm khôi phục sự liêm chính của tổ chức.

Một hàm ý đối với người lãnh đạo ở đây là sứ mệnh và tầm nhìn của tổ chức phải là được đặt lên hàng đầu trong mọi quá trình ra quyết định. Một lãnh đạo có đạo đức sẽ không được phép thỏa hiệp trên vấn đề triết lý hoặc tầm nhìn và sứ mệnh của tổ chức. Ví dụ, bạn không được nhận một khoản tài trợ nếu với điều kiện là tổ chức phải làm một việc gì đó đi ngược lại lợi ích cao nhất hoặc các tiêu chuẩn đạo đức của nó (vd: dùng những phương pháp mà tổ chức cho là không hiệu quả hoặc gây hại).

Thử xét một trường hợp lý thú khi mà tổ chức mình được đề nghị tài trợ tiền bởi một mạnh thường quân mà triết lý hoặc thế giới quan của họ đối lập với tổ chức mình (vd: một quỹ mà công ty mẹ của nó có lập trường kỳ thị người đồng tính, hoặc ngược đãi nhân công của mình dưới dạng nào đó). Ở một góc nhìn thì việc nhận tiền từ nguồn đó, một cách giản dị, là trái đạo đức. Ở góc nhìn khác, miễn là nhà tài trợ không yêu cầu bạn phải chấp nhận hoặc hành động theo những lập trường hoặc thực hành trái đạo đức của họ, thì sẽ tốt hơn nếu số tiền tài trợ được chuyển cho tổ chức của bạn, thay vì cho một tổ chức khác mà có ủng hộ cho triết lý của nhà tài trợ. Một số người sẽ coi đây là 1 dạng lừa đảo để nhận tiền, người khác lại coi như thế là sử dụng tiền một cách khôn khéo. Đáp án “đúng” ở đây thực sự tùy thuộc vào các chuẩn mực đạo đức của tổ chức.

Đạo đức cần trở thành một chủ đề thảo luận

Tương tự với việc khung giá trị đạo đức phải được xét lại thường xuyên, cả tình trạng đạo đức của tổ chức và của mọi thành viên cũng cần được thảo luận thường xuyên bởi tất cả những người có liên quan. Quan niệm đạo đức của mọi người, bao gồm cả người lãnh đạo, nên được chất vấn công khai, và mọi người nên sẵn lòng và nghiêm túc lắng nghe sự chất vấn đó mà không co cụm tự vệ. Chỉ bằng cách thảo luận nghiêm túc về các câu hỏi đạo đức, và sẵn lòng xét lại các quan niệm mặc định về đạo đức của mình, bạn mới có thể tiếp tục nâng cao vốn tri thức đạo đức của mình. Ở phần trước, chúng ta đã nói rằng khung giá trị đạo đức được hình thành từ tất cả những gì bạn học và trải nghiệm. Từ đó suy ra, khung giá trị đạo đức sẽ tiếp tục phát triển khi quá trình học và trải nghiệm của bạn tiếp diễn và quá trình đó sẽ kéo dài đến suốt đời, nếu bạn luôn chủ động tra xét lại các câu hỏi đạo đức.

Đạo đức cần được bày tỏ công khai

Bạn cần có khả năng và sẵn sàng giải thích về bộ khung giá trị đạo đức mình mình và các quyết định đạo đức của mình, và bảo vệ cho chúng (trừ khi bị ai đó thuyết phục rằng chúng sai hoặc thiếu sót). Ngoài ra, bạn có trách nhiệm lên tiếng và bảo vệ cho những gì mình tin tưởng, chứ không chỉ là diễn thuyết về nó.

Suy tư về đạo đức phải được kết nối với hành động

Những ý định tốt đẹp nhất trên đời đều sẽ là vô nghĩa nếu chỉ dừng lại ở đó. Nếu chỉ mang một lập trường hoặc triết lý đạo đức thôi thì chưa thể gọi là một nhà lãnh đạo có đạo đức. Lập trường hoặc triết lý đó phải được thể hiện bằng hành động, ở cả những hoàn cảnh chung và các tình huống cụ thể (vd: cách bạn đối xử với mọi người và dẫn dắt tổ chức theo thời gian, cũng như những quyết định riêng lẻ bạn đưa ra).

Lãnh đạo theo chuẩn mực đạo đức là một quá trình có sự chia sẻ

Mọi người trong một tổ chức hoặc cộng đồng cần có cơ hội để thực hành điều đó – và đi theo đến cùng của sự việc – ở thời điểm thích hợp. Sự thực hành này có thể thông qua việc chất vấn hoặc tự khởi xướng ra một quyết định/ hành động, qua việc làm gương trong một tình huống cụ thể, hoặc bảo vệ cho sự chính trực trong tổ chức.

Hãy nhớ rằng, trên tư cách lãnh đạo, bạn luôn là tấm gương cho mọi người bất kể bạn có chọn như vậy hay không. Mọi người sẽ nhìn vào bạn mà nắm bắt về cách tổ chức vận hành, về văn hóa của nó, và về những gì cấu thành sự hành xử có đạo đức. Hãy ghi nhớ điều đó và hành xử đúng mực. (Điều đó nghĩa là không chỉ chú ý tới nội dung của những gì bạn nói và làm, mà cả tới hình thức của chúng: bất kể bản chất bên trong là thế nào, thì bạn cũng đừng làm bất cứ điều gì mà trông có vẻ hoặc có thể bị diễn giải ra là thiếu đạo đức.)

Là một người lãnh đạo có đạo đức, bạn nên khích lệ người khác nhận lãnh các vai trò lãnh đạo, và kèm cặp họ trong quá trình họ thực hiện. Điều này giúp phát triển các nhân sự lãnh đạo có đạo đức trong tổ chức hoặc cộng đồng – làm tăng khả năng vận hành và trao cho nó nhiều nguồn lực hơn khi phát sinh vấn đề hoặc khủng hoảng. Ngoài ra, nó giúp đào tạo ra một nhóm lãnh đạo mới – những người sẽ có khả năng nhận trách nhiệm sau này (nhờ đó giảm bớt áp lực lên vai bạn) và đảm nhiệm cương vị lãnh đạo khi bạn chuyển sang làm việc khác.

Nguồn bài viết: Ethical Leadership

Nguồn ảnh: https://www.quietrev.com

Comments

comments