Một nghiên cứu về các loại phong trào xã hội

Tác giả: Jonathan Christiansen

Sách: Theories of social movements – Các lý thuyết về các phong trào xã hội

Các nhà xã hội học thường sử dụng một loạt các biện pháp, biến số và chỉ số để phân loại các phong trào xã hội nhằm tạo thuận lợi cho việc so sánh. Hiểu được những loại chính của phong trào xã hội là nền tảng quan trọng cho tất cả những người quan tâm tới các đặc điểm xã hội học của hành động tập thể. Bài viết này nghiên cứu việc phân loại các phong trào xã hội và được chia làm ba phần:

  • Tổng quan về lý thuyết phong trào xã hội và các mô hình phân loại phong trào xã hội
  • Mô tả các mô hình phân loại chính đối với các phong trào xã hội
  • Thảo luận về những điểm mạnh và yếu của các mô hình phân loại phong trào xã hội nổi bật.

Lịch sử của lý thuyết phong trào xã hội

“Phong trào xã hội” là thuật ngữ chỉ về một sự nỗ lực tự nguyện và có chủ đích để tổ chức các cá nhân hành động một cách nhịp nhàng, nhằm đạt được một mức độ ảnh hưởng đủ mạnh để tạo ra hoặc ngăn chặn sự thay đổi.

Các nhà xã hội học coi các phong trào xã hội như là những nhóm có định hướng về quyền lực hơn là có định hướng về sự tham gia. Sự phân biệt này có nghĩa là các hành động tập thể của phong trào xã hội không nhất thiết mang lại lợi ích chính yếu cho các thành viên cá nhân, mà thay vào đó, để phục vụ cho các mục tiêu lớn hơn của nhóm.

Các hoạt động tập thể mang tính phối hợp được thực hiện để đảm bảo tạo ra thay đổi trong bối cảnh chung về chính trị-xã hội. Các phong trào xã hội có xu hướng thành công nhất trong các xã hội cởi mở, dân chủ, ở đó sự dịch chuyển xã hội và thay đổi xã hội vốn là những khái niệm được chấp nhận.

Trong các xã hội hậu công nghiệp, các phong trào xã hội định hướng theo chuẩn mực (norm-oriented social movements) thường phổ biến hơn các phong trào xã hội định hướng theo giá trị (value-oriented social movements). Các phong trào định hướng theo chuẩn mực đề cập đến những nhóm nỗ lực tạo ra thay đổi từ trong lòng hệ thống. Các phong trào định hướng giá trị đề cập đến các nhóm nỗ lực thay đổi các mục tiêu cơ bản của một hệ thống (Morrison, 1971).

Nhà xã hội học Lorenz von Stein lần đầu tiên giới thiệu thuật ngữ “phong trào xã hội” trong cuốn sách Lịch sử Phong trào Xã hội Pháp từ năm 1789 đến nay (1850).

Lorenz von Stein, người được biết đến nhờ mối quan tâm về đấu tranh giai cấp, đã dựa vào những phân tích của ông về xã hội tư sản – công nghiệp giữa thế kỷ XIX để phát triển khái niệm “phong trào xã hội”. (Kastner, 1981).

Trong thời gian đó, các phong trào xã hội (hoàn chỉnh với căn cước tập thể, sự chú ý của truyền thông, yếu tố lãnh đạo, số lượng thành viên, và hành động tập thể) đã trở nên phổ biến ở châu Âu và Bắc Mỹ.

Cuộc cách mạng công nghiệp, với sự lan tỏa rộng về vốn (tư bản) và con người một cách nhanh chóng qua khắp các khu vực địa lý, đã tạo ra những thay đổi lớn lao trong môi trường chính trị, xã hội và môi trường làm việc trong giai đoạn này. Các phong trào xã hội ban đầu bao gồm các công đoàn và tập thể người lao động. Sau Thế chiến II, các phong trào xã hội đã phát triển mạnh dựa trên những mối lo ngại về bất bình đẳng xã hội, suy thoái môi trường, nhiều hơn so với các vấn đề lao động hoặc việc làm.

Những mô hình phân loại chính của các phong trào xã hội, được mô tả chi tiết trong phần tiếp theo, bao gồm mô hình phân loại thành phong trào xã hội thay thế, cứu rỗi, cải cách và cách mạng; mô hình phân loại thành các phong trào xã hội truyền thống so với các phong trào xã hội mới; Và mô hình phân loại các phong trào xã hội dựa trên kinh tế.

————Mô hình phân loại :Thay thế, Cứu rỗi, Cải cách và Cách mạng————–

Nhà nhân chủng học David Aberle, trong cuốn sách của ông, tựa đề “The Peyote Religion Among the Navaho” (Tôn giáo Peyote của người thổ dân Navaho), đã giới thiệu một cách phân loại, thành các loại phong trào mang tính “thay thế – cứu rỗi – cải cách và cách mạng” (1966). Ngày nay, mô hình của Aberle là một trong những hệ thống phân loại phong trào xã hội có ảnh hưởng nhất.

1. Các phong trào mang tính cách mạng: Các phong trào mang tính chuyển hóa, như các nhóm chính trị cực đoan, đặt mục tiêu thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội. Họ có thể tham gia vào hành động bạo lực để đạt được sự thay đổi và có thể sống trong tâm thế đón đợi một sự thay đổi hoặc thảm họa thiên nhiên to lớn sắp đến (Almanza-Alcalde, 2005).

Ví dụ, phong trào Căn Cước Cơ đốc nhân(Christian Identity), một phong trào của các giáo hội và tổ chức tôn giáo Cơ Đốc cực kỳ bảo thủ,các nhóm chính trị cực hữu và những nhóm theo tư tưởng “Chuẩn bị để sống sót sau Tận Thế”, được liên kết bởi một niềm tin về sự thượng đẳng của người da trắng và trận chiến cuối cùng (Armageddon), được nhắc tới trong Khải Huyền.

Trận chiến Armageddon là từ để chỉ về ngày tận thế và sự trở lại (quang lâm) của Đấng Ki-tô. Phong trào Christian Identity này, theo ước tính, có 50.000 thành viên trong hàng chục giáo phái. Phong trào theo xu hướng này có quy mô lớn nhất và nổi tiếng nhất trong lịch sử chính là Ku Klux Klan (Đảng 3K) tại Mỹ (Robinson, 2006).

2. Các phong trào mang tính cải cách: Các phong trào mang tính cải cách có mục đích tạo ra thay đổi xã hội có tính chất bộ phận, nhằm giải quyết những bất công và bất bình đẳng. Các phong trào cải cách thường có mong muốn thúc đẩy những thay đổi tích cực và đạt được trật tự xã hội công bằng.

Các phong trào mang tính cải cách thường là những phong trào xoay quanh một vấn đề duy nhất. Trong nhiều trường hợp cá biệt, vấn đề đơn lẻ này sẽ trở thành điểm xuất phát cho một nền tảng rộng lớn hơn cho sự thay đổi và tái cấu trúc xã hội. Ví dụ, các phong trào mang tính chính trị đã bắt đầu vận động để giảm nợ nước ngoài của các nước nghèo, và sau khi thành công, sẽ mở rộng ra theo hướng thay đổi các quy tắc thương mại quốc tế(Almanza-Alcalde, 2005).

Fred Voget, nhà nhân chủng học về văn hoá và nhà dân tộc học nghiên cứu về người Mỹ bản địa (người Anh-Điêng), lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phong trào mang tính cải cách” năm 1956 để chỉ một nỗ lực cố gắng sáng tạo có chủ đích của một nhóm phụ thuộc để đạt được sự tái hoà nhập ở cấp độ cá nhân và xã hội thông qua việc chọn lọc loại bỏ, sửa đổi và tổng hợp cả hai thành phần văn hoá truyền thống và ngoại lai.

Một ví dụ hiện đại về một phong trào mang tính cải cách là tôn giáo Umbanda của Brazil. Phong trào tôn giáo Umbanda, một sự lai ghép giữa các yếu tố của các tín ngưỡng châu Phi, thổ dân da đỏ, Công Giáo Bồ Đào Nha, và loại tín ngưỡng dựa trên sự giao tiếp với thế giới tâm linh. Phong trào này rất có sức thu hút nhờ vào những biểu hiện của bản sắc dân tộc. Phong trào này hoạt động theo hướng cải cách xã hội bằng việc khôi phục lại các di sản văn hoá lâu đời (Dann, 1979).

3. Các phong trào mang tính cứu rỗi: Các phong trào mang tính cứu rỗi tìm kiếm một sự biến đổi hoàn toàn trong các cá nhân (Almanza-Alcalde, 2005). Các phong trào phục hồi nhân cách, chẳng hạn như Alcoholics Anonymous (cai nghiện rượu), là những ví dụ phổ biến. Alcoholics Anonymous được sáng lập năm 1935 bởi một nhà môi giới chứng khoán kiêm bác sĩ phẫu thuật, vốn đang chịu đựng những tác hại của việc nghiện rượu. Phong trào này kết hợp giữa tâm lý học phổ thông và tôn giáo để đem lại cho các thành viên một sự cứu rỗi cá nhân thông qua việc nhìn nhận tình trạng bệnh tật của họ. Alcoholics Anonymous hiện bao gồm hơn 113.000 nhóm và hơn 2.000.000 hội viên tại 180 quốc gia.

4. Các phong trào mang tính thay thế: Các phong trào mang tính thay thế hoạt động theo hướng tạo ra thay đổi một phần trong các cá nhân. Các phong trào này bắt đầu hình thành vào những năm 1960, được đặc trưng bởi các giá trị văn hoá đối kháng, sự chối bỏ chủ nghĩa duy vật, và sự phát triển của những lối sống phi truyền thống. Họ không đặt mục tiêu thay đổi hệ thống chính trị xã hội hiện hành.

Thay vào đó, các phong trào này hướng tới việc phát triển một lối sống tồn tại song song, mang tính sinh thái, khả thi và bền vững về mặt tâm linh. Ví dụ, phong trào phát triển bền vững và phong trào “trở lại với đất” của thập niên 60-70 ở Hoa Kỳ được đặc trưng bởi sự di cư từ các thành phố về nông thôn và nỗ lực sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên (Almanza-Alcalde, 2005) .

————–Mô hình phân loại “truyền thống vs kiểu mới”—————–

Các nhà xã hội học cũng phân loại các phong trào xã hội bằng mô hình “truyền thống vs kiểu mới”. Cách phân loại này dựa trên cả hai nền tảng là ngày tháng (hoặc thời đại) của phong trào xã hội và các đặc điểm của nó. Trong mô hình này, các phong trào xã hội được phân tích theo những tiêu chí sau: quan điểm của các bên tham gia trong phong trào xã hội, mối quan hệ của các bên tham gia trong phong trào đối với nền văn hoá, và khuôn khổ hành động của phong trào xã hội đó. (Wieviorka, 2005).

Chủ yếu diễn ra vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, các phong trào xã hội truyền thống thường có đặc điểm như: quy mô lớn, các thành viên không có tương tác và xa lạ với nhau. Trong khi đó, các phong trào xã hội kiểu mới hầu hết có từ nửa sau thế kỷ 20 và mang đặc tính như những mạng lưới tổ chức lỏng lẻo.

Mô hình phân loại “truyền thống vs kiểu mới” này cho rằng các phong trào xã hội kiểu mới ban đầu được phát triển để hưởng ứng và có thể là để đối phó lại các phong trào xã hội truyền thống.

Trong khi các phong trào xã hội truyền thống thu hút thành viên thông qua phân tích đặc điểm của cá nhân, nỗi bất bình, thất vọng, và ý thức hệ thì các phong trào xã hội kiểu mới, bắt đầu từ những năm 1960, đã từ bỏ những yếu tố thu hút kiểu tâm lý – xã hội truyền thống, vốn rất phổ biến trong các phong trào dựa trên sự mất mát và các phong trào xã hội đại chúng. Bằng cách từ bỏ phương thức của các phong trào xã hội truyền thống, các phong trào kiểu mới đặt ra thách thức mang tính triệt để đối với những gì vốn được nhìn nhận là chân lý về cách vận hành của các phong trào xã hội (Klandermans, 1984).

Lịch sử các phong trào xã hội từ cuối thế kỷ 19 đến thế kỷ 20 bao gồm 2 giai đoạn chính: kỷ nguyên công nghiệp và hậu công nghiệp. Xã hội công nghiệp tạo ra nhiều phong trào xã hội của giai cấp công nhân nhằm cải thiện điều kiện làm việc, quyền lợi và tiền lương. Giai đoạn hậu công nghiệp đã tạo ra các phong trào xã hội mới như phong trào dân quyền, phong trào nữ quyền, và phong trào môi trường, khác với những phong trào xã hội truyền thống trong thời đại công nghiệp. (Cần lưu ý rằng một số học giả cũng phân định giữa các phong trào xã hội mới của thập niên 60-70 và các phong trào xã hội toàn cầu của thập niên 80-90).

Kể từ những năm 1950, các phong trào xã hội bắt đầu có sự khác biệt với các phong trào xã hội truyền thống. Trong khi các phong trào xã hội truyền thống được đặc trưng bởi lãnh đạo mang tính địa phương, đội ngũ nhân viên tình nguyện, hành động tập thể, số lượng thành viên lớn, và nguồn tài trợ đến từ những người được hưởng lợi trực tiếp. Các phong trào xã hội mới được chuyên nghiệp hóa hơn với bộ máy lãnh đạo chuyên nghiệp, nhân viên được trả lương, các thành viên không lộ diện, nguồn tài trợ đến từ bên ngoài; các hành động thì vẫn đại diện cho phong trào, nhưng không yêu cầu sự tham gia của thành viên. Những phong trào xã hội chuyên nghiệp đã thành công, chẳng hạn như phong trào môi trường, đều rất biết cách huy động nguồn lực, cả từ bên trong lẫn bên ngoài, để đạt được sự thay đổi mong muốn (Jenkins, 1983).

Mô hình phân loại “truyền thống vs kiểu mới” cho rằng các phong trào xã hội đương thời thực hiện các hành động tập thể theo những cách khác biệt rõ rệt so với các phong trào truyền thống. Chiến lược, mục đích và cơ cấu thành viên của chúng là rất khác biệt với các phong trào xã hội truyền thống.

Một số lý thuyết gia và học giả tin rằng các phong trào xã hội kiểu mới nảy sinh từ nhiều kênh trong xã hội; Ví dụ: họ coi các phong trào xã hội kiểu mới như là sự biểu hiện mong muốn của xã hội dân sự trong việc đem lại thay đổi mang tính cấu trúc.

Các phong trào xã hội kiểu mới cũng nảy sinh từ bối cảnh là tầm quan trọng và sự phổ biến đang ngày càng gia tăng của thông tin trong xã hội tri thức của chúng ta. Ngoài ra, các phong trào xã hội kiểu mới có thể được coi là kết quả tất yếu của việc thay đổi các mối quan hệ xã hội, kinh tế và chính trị trong xã hội hậu công nghiệp.

Chúng thường có mong muốn đạt được những cải cách về cơ cấu hơn là cách mạng, và chính vì không nhằm phá bỏ các hệ thống chính trị và kinh tế hiện hành, chúng thường có tính chất tự chế về mức độ triệt để hay cực đoan.Các phong trào xã hội mới cũng phản ánh những hình thức đang thay đổi của tổ chức chính trị và mối quan hệ đang chuyển dịch giữa các lĩnh vực công cộng và riêng tư trong các xã hội hậu công nghiệp.

Mô hình phân loại “truyền thống vs mới” lập luận rằng các phong trào xã hội mới như các phong trào phản chiến, môi trường, dân quyền và nữ quyền là khác biệt hẳn so với các phong trào xã hội truyền thống khác như phong trào lao động.

Các phong trào xã hội truyền thống có khuynh hướng liên quan đến xung đột giai cấp, trong khi các phong trào xã hội mới lại là về xung đột chính trị và xã hội. Các phong trào truyền thống có xu hướng tập trung vào những mối quan tâm về kinh tế và bất bình đẳng, trong khi các thành viên của các phong trào xã hội mới lại thường đến từ một giai tầng xã hội được gọi là tầng lớp trung lưu mới.

Các phong trào xã hội mới cũng khuyến khích các thành viên tiếp nhận những thay đổi về lối sống, và thường dựa trên các mạng lưới hỗ trợ được tổ chức lỏng lẻo hơn là cơ cấu thành viên chính thức. Cuối cùng, các phong trào xã hội mới thường mong muốn nhìn thấy sự thay đổi trên quy mô toàn cầu, trái ngược với các nhóm phản kháng, thường có xu hướng địa phương và tập trung vào các vấn đề riêng lẻ (Lentin, 1999).

——————-Mô hình phân loại theo kinh tế———————-

Cuối cùng, các nhà xã hội học cũng phân loại phong trào xã hội theo các nguồn lực và mục tiêu kinh tế của chúng. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các phong trào xã hội có thể được phân loại theo động cơ, hoặc bởi các yếu tố kinh tế hoặc các biến số khác, chẳng hạn như các mối quan tâm về môi trường hoặc dân quyền. Mặc dù kinh tế gắn kết một cách chặt chẽ với gần như mọi mặt của xã hội, các nhà xã hội học vẫn phân biệt giữa các phong trào xã hội có động cơ kinh tế và các phong trào xã hội có động cơ phi kinh tế.

Các nhà nghiên cứu lập luận rằng các phong trào xã hội có động cơ kinh tế thường phát sinh từ tình trạng căng thẳng về kinh tế. Ví dụ, khi tỷ lệ tăng trưởng về thu nhập xã hội giảm xuống dưới một mức tăng trưởng cao được duy trì trước đó, các cá nhân trở nên bị hạn chế trong hành động và lựa chọn của họ. Khi đó, các cá nhân có nhiều khả năng sẽ tham gia vào các phong trào xã hội nhằm cải thiện điều kiện kinh tế của họ. Nghiên cứu cho thấy, tình trạng kinh tế suy thoái là nguồn gốc tạo ra một loại thị trường cũng như mong muốn thay đổi xã hội. Các phong trào xã hội đáp ứng lại tâm trạng bất mãn và thất vọng của các cá nhân bằng cách tạo cơ hội phản kháng về kinh tế, chính trị và xã hội (Breton & Breton, 1969).

Các phong trào xã hội được khởi phát bởi những người có thu nhập thấp thường hạn chế về nguồn lực; do đó các phong trào này đòi hỏi và tìm kiếm sự giúp sức và tài trợ từ bên ngoài.

Trong các tổ chức phong trào xã hội, thường có hai loại thành viên: thành phần tham gia vì lương tâm và thành phần mang tính thụ hưởng từ phong trào. Các thành phần tham gia vì lương tâm là các cá nhân hoặc nhóm bên ngoài phong trào nhưng có sự liên minh mang tính chất đạo đức với lý tưởng, mục đích, hoặc sứ mệnh của phong trào ấy.

Các phong trào xã hội thường tìm kiếm và tiếp nhận các nguồn lực từ các thành phần tham gia vì lương tâm. Vì các phong trào xã hội và truyền thông đại chúng có trách nhiệm định hình các thông điệp và tính chất của phong trào xã hội, các thành phần tham gia vì lương tâm có xu hướng sẽ đóng góp nhiều hơn khi những nhân tố định hình này nhấn mạnh đến những điểm chung của các đối tượng hưởng lợi với các thành phần tham gia vì lương tâm đó (Paulsen & Glumm, 1995).

Theo lý thuyết huy động nguồn lực, vốn được sử dụng để phân tích các phong trào xã hội mang động cơ kinh tế như công đoàn và các băng đảng, thì một phong trào xã hội thường phát sinh từ những thay đổi dài hạn trong cơ cấu tổ chức, các nguồn lực sẵn có và cơ hội đưa ra hành động tập thể của một nhóm.

Lý thuyết này xem xét các yếu tố mang tính cấu trúc, bao gồm các nguồn lực sẵn có của một nhóm và vị trí của các thành viên nhóm trong các mạng lưới chính trị-xã hội, để phân tích về tính chất và thành công của các phong trào xã hội (Klandermans, 1984). Lý thuyết này lập luận rằng các phong trào xã hội thành công được nhờ vào khả năng huy động nguồn lực và đem lại của các cơ hội chính trị và kinh tế cho các thành viên.

Điểm mạnh và yếu của các mô hình phân loại phong trào xã hội

Các mô hình phân loại phong trào xã hội được mô tả trong bài viết này có những điểm mạnh và yếu riêng. Ví dụ, mô hình của Aberle, trong đó phân ra thành các phong trào xã hội mang tính thay thế, cứu rỗi, cải cách và cách mạng nhận được nhiều cả sự ủng hộ lẫn chỉ trích.

Những người ủng hộ thì cho rằng quy mô và tính bao hàm của mô hình này cho phép nó được sử dụng để phân tích và phân loại hầu hết mọi biến thể của phong trào xã hội.

Những người phê phán thì cho rằng mô hình phân loại này chỉ mô tả các kiểu phong trào xã hội ở dạng lý tưởng hoặc thuần nhất. Trên thực tế, họ cho rằng các phong trào xã hội nhất định phải kết hợp giữa các yếu tố và đặc điểm từ bốn loại phong trào xã hội khác nhau (Masuda, 1998). Trên hết, mô hình của Aberle có thể đóng vai trò như một công cụ để phân tích các yếu tố và đặc điểm chung hoặc phổ biến của các phong trào xã hội.

Đối với mô hình “truyền thống vs kiểu mới”, những người ủng hộ cách phân loại này nhận thấy rằng nó giúp ích trong việc phân loại một số lượng lớn và rộng các phong trào xã hội đương đại lẫn trong lịch sử.

Ngoài ra, mô hình này tạo điều kiện so sánh giữa các phong trào xã hội kiểu mới và các phong trào truyền thống. Tuy nhiên, những người chỉ trích mô hình này thì lại hoài nghi trước lời khẳng định của nó rằng các phong trào xã hội mới đã thay thế các phong trào xã hội truyền thống bắt đầu từ giữa thế kỷ 20.

Những người chỉ trích lập luận rằng các phong trào mang những đặc điểm của loại phong trào xã hội mới, đã tồn tại trong thời kỳ công nghiệp, và các phong trào xã hội truyền thống, đều vẫn tiếp tục tồn tại song song với các phong trào xã hội mới. Họ cho rằng hiện chưa có đủ nghiên cứu để cho phép phân biệt thực sự giữa các phong trào xã hội mới và các phong trào xã hội truyền thống (Lentin, 1999).

Những người ủng hộ việc phân loại các phong trào xã hội theo tiêu chí kinh tế thì cho rằng, sự tồn tại phổ quát của những mối quan tâm về kinh tế ở khắp các phong trào xã hội khiến cho mô hình này hữu ích và có thể được áp dụng rộng rãi.

Tuy nhiên, những người chỉ trích thì cho rằng nó đưa ra một cái nhìn giới hạn về động lực của các thành viên trong phong trào xã hội. Họ thấy rằng đặc điểm kinh tế của những người tham gia phong trào xã hội có thể không đủ để giải thích lý do khiến các cá nhân khởi động và gia nhập các phong trào xã hội.

Ngoài ra, những người chỉ trích còn lưu ý rằng mô hình phân loại dựa trên kinh tế không đánh giá đúng về tương quan và tầm quan trọng giữa các nguồn lực vật chất và phi vật chất mà các phong trào xã hội cần huy động để đạt được mục tiêu của mình.

Các nguồn lực vật chất được phong trào xã hội sử dụng bao gồm tiền bạc, các tổ chức, nhân lực, công nghệ, phương tiện liên lạc và truyền thông đại chúng. Các nguồn lực phi vật chất thì bao gồm tính chính đáng, lòng trung thành, những mối quan hệ xã hội, các mạng lưới cá nhân, mối quan hệ cá nhân, sự chú ý của công chúng, thẩm quyền và cam kết đạo đức. Những người chỉ trích khẳng định rằng các phong trào xã hội thành công đòi hỏi phải huy động cả nguồn lực kinh tế và phi kinh tế cũng như có sự hiện diện của các động cơ và mục tiêu kinh tế lẫn phi kinh tế trong các thành viên (Fuchs, 2006).

Suy cho cùng, các mô hình phân loại phong trào xã hội giúp cho giới nghiên cứu hiểu được các phong trào xã hội (với những mục tiêu, loại hành động tập thể, đối tượng, chiến lược và các nguồn lực dường như rất khác nhau) giống nhau ra sao và cùng phản ánh như thế nào về một lịch sử chung các hành động tập thể, cũng như cách chúng khác biệt và phản ánh những quan điểm và tình thế rất riêng của mình (Almanza-Alcade, 2005).

Nguồn ảnh bìa: http://www.occupy.com

Comments

comments