Những tình thế khó xử trong việc thúc đẩy nguyên tắc Phi bạo lực – (P1)

Giới thiệu 

Việc thúc đẩy sử dụng hành động phi bạo lực gây ra một số căng thẳng và tình thế khó xử mà ít khi được thảo luận, gồm cả khả năng là hành động phi bạo lực có thể được sử dụng vì một mục tiêu sai trái, khả năng nguyên tắc phi bạo lực hỗ trợ bạo lực và ngược lại, và vai trò của những người ủng hộ hành động phi bạo lực. Thật hữu ích khi coi hành động phi bạo lực là một công cụ có thể dùng được cho các mục đích khác nhau, nhưng về bản chất thì dùng để giải phóng dễ hơn là để đàn áp.

Hầu hết những người ủng hộ nguyên tắc phi bạo lực đều cho rằng nó vốn là một điều tốt: đó là một sự thay thế bạo lực để đạt được các mục tiêu xứng đáng. Do đó, việc thúc đẩy dùng hành động phi bạo lực xem ra không phải là vấn đề.

Trong những năm gần đây, các giả định này đang bị đặt nghi vấn, cùng lúc diễn ra những sự công kích dữ dội nhằm vào một số người ủng hộ hành động phi bạo lực, như Gene Sharp, Peter Ackerman và Jack DuVall. Họ bị cáo buộc đã ủng hộ các mục tiêu đế quốc của chính phủ Mỹ thông qua việc thúc đẩy đấu tranh phi bạo lực. Những sự công kích này tạo cơ hội để suy xét lại về một số vấn đề ít được nêu ra liên quan đến việc sử dụng và thúc đẩy nguyên tắc phi bạo lực.

Mục đích của tôi ở đây là bàn về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng và thúc đẩy hành động phi bạo lực. Trong phần tiếp theo, tôi sẽ đề cập đến việc liệu hành động phi bạo lực có thể được sử dụng vì những mục đích sai trái hay không. Tiếp theo tôi sẽ xem xét các hoàn cảnh mà trong đó hành động phi bạo lực là cách làm không phù hợp và những điều suy ra từ đó. Sau đó tôi sẽ nghiên cứu các điểm giao cắt giữa bạo lực và phi bạo lực, đặc biệt là những tình thế khó xử liên quan khi hành động phi bạo lực được sử dụng theo những cách mà có vẻ sẽ gây ra, kích động hoặc ủng hộ bạo lực. Sau đó, tôi sẽ xem xét sự tương phản giữa việc tham gia vào hành động phi bạo lực đối với việc ủng hộ nó hay đào tạo những người khác để áp dụng nó, và một số vấn đề tiềm ẩn phát sinh từ việc thúc đẩy hành động phi bạo lực. Tiếp theo tôi sẽ trình bày ý tưởng về nguyên tắc phi bạo lực như một công cụ không mang tính trung lập, chỉ ra cách làm thế nào để giúp giải thích những gì xảy ra trong các cuộc tranh luận về nguyên tắc phi bạo lực. Cuối cùng, tôi sẽ tóm lược cuộc tranh luận giữa những người phê phán và những người ủng hộ nguyên tắc phi bạo lực dưới ánh sáng của cuộc thảo luận trước đó.

Phi bạo lực theo nguyên tắc và phi bạo lực thực tiễn

Trước khi bắt đầu nghiên cứu các tình thế khó xử về vấn đề phi bạo lực, điều quan trọng là phải phân biệt được giữa phi bạo lực theo nguyên tắc và phi bạo lực thực tiễn, hai truyền thống trong tư duy và hành động phi bạo lực [1]. Phi bạo lực có nguyên tắc là cách tiếp cận của Gandhi: phi bạo lực là một lối sống, gồm các hành vi cá nhân, tư tưởng và các sắp đặt xã hội cũng như các phương pháp sử dụng trong các cuộc đấu tranh với những tầng lớp khác. Với cách tiếp cận theo nguyên tắc, quyết định không sử dụng vũ lực được tiến hành trên nền tảng đạo đức: nó bị coi là sai trái khi làm thương vong đối phương. Dù việc từ chối sử dụng bạo lực là yếu tố chủ đạo, nhưng vẫn có các quyết định thực tiễn cần được đưa ra về việc phương pháp phi bạo lực nào sẽ là hiệu quả nhất.

Trái lại, lý do để áp dụng hành động phi bạo lực thực dụng/thực tiễn là bởi vì nó hiệu quả hơn dùng bạo lực. Gene Sharp là học giả chủ chốt về hành động phi bạo lực thực dụng, tập trung vào phương pháp và động lực hành động mà không hàm ý gì đến lối sống cá nhân hay cách mà con người nên sống.[2] Hành động phi bạo lực thực dụng được sử dụng để đối phó lại với các vấn đề cụ thể như chiến tranh, diệt chủng và đàn áp. Nhiều nhà hoạt động, chẳng hạn như các nhà bảo vệ môi trường và các nhà tranh đấu vì nữ quyền, những người chọn cách thức nguyên tắc phi bạo lực mà không có ý thức gì về lý thuyết phi bạo lực, có thể được phân loại vào kiểu truyền thống thực tiễn.

Một số phong trào giải phóng dân tộc đã sử dụng bạo lực và sau đó đã quyết định tập trung vào hành động phi bạo lực, chẳng hạn như ở Đông Timor đối với việc chiếm đóng của Indonesia [3] và ở Nam Phi đối với nạn phân biệt chủng tộc (apartheid).[4] Đây là những thí dụ về việc chấp nhận nguyên tắc phi bạo lực vì lý do thực tiễn: nếu đấu tranh bạo lực là có hiệu quả thì các phong trào đó lẽ ra sẽ vẫn còn tiếp tục kiên trì với con đường đó. Những người gắn bó với phi bạo lực có nguyên tắc sẽ không bao giờ tham gia vào đấu tranh vũ trang ngay từ đầu. Những thành viên có nguyên tắc rất có thể sẽ nhận ra giá trị của phân tích của Sharp, bởi nó được định hướng về cách thức để đạt kết quả mà không đòi hỏi bất kỳ cam kết nào đối với một hệ giá trị đặc thù.

Trên thực tế có sự giao thoa giữa hai cách tiếp cận này. Các thành viên theo lối nguyên tắc thường có một sự hiểu biết sâu sắc về cách để đạt hiệu quả; Gandhi là một hình mẫu về việc này.[5] Có thể nói rằng các thành viên theo lối nguyên tắc có thể sẽ là thực tế trong khuôn khổ mà việc từ chối sử dụng bạo lực đã đặt ra. Mặt khác, khá nhiều nhà hoạt động xã hội (nhà hoạt động) trong các phong trào xã hội thực tiễn thì gắn bó với nguyên tắc phi bạo lực nhưng không quảng bá niềm tin cá nhân của họ để tránh bị các đồng nghiệp cô lập. Mặc dù vậy, những gắn bó cá nhân của họ đã giúp định hình cách tiếp cận của họ đối với hành động phi bạo lực.

Nhiều nhà phê bình về phi bạo lực lại không phân biệt được giữa loại phi bạo lực nguyên tắc và thực tiễn. Họ mặc định rằng các nhà hoạt động thực tế bám vào nguyên tắc mà điển hình là của những người theo chủ nghĩa hoà bình những năm 1930. Tuy nhiên, Gandhi không phải là biểu tượng đại diện cho tất cả các nhà hoạt động phi bạo lực, nhiều người trong số họ hoàn toàn xa lạ với những niềm tin hay các cuộc vận động của ông.

Sau đây tôi sẽ tập trung chủ yếu vào dạng phi bạo lực thực tiễn, và chỉ đề cập tới dạng phi bạo lực có nguyên tắc khi phù hợp. Những điểm tôi nêu ra chủ yếu không phải nhằm vào nguyên tắc phi bạo lực –nguyên tắc hay là thực tiễn – mà là vào các tình thế khó xử trong việc thúc đẩy nguyên tắc phi bạo lực, bất kể theo hướng nào. Hầu hết những người gặp phải các tình thế này đều đi theo lối thực tiễn.

Phi bạo lực vì mục đích sai trái?

Các nhà hoạt động bình thường cho rằng những điều họ làm là vì một mục đích chính đáng, và các nhà hoạt động phi bạo lực cũng vậy. Nhiều vấn đề có vẻ đơn giản. Khi chống lại bóc lột lao động, công nhân đã dùng cách đình công, làm chiếu lệ, chiếm giữ công xưởng và nhiều hình thức phi bạo lực khác. Để chống lại việc hủy hoại môi trường, các nhà hoạt động đã tụ tập mít-tinh, phong tỏa, và biểu tình ôm cây (tree-sits), ngoài các cách khác. Khi phản đối chiến tranh, các nhà hoạt động vì hòa bình đã tụ tập mít-tinh, tẩy chay, không nộp thuế, và phá hoại thiết bị quân sự, ngoài các cách khác. Hết cuộc vận động này đến cuộc vận động khác, các thành viên đã sử dụng nhiều phương pháp phi bạo lực mà Sharp và những người khác đã liệt kê ra. Cũng có nhiều thí dụ về các cuộc vận động phi bạo lực được sử dụng để lật đổ các chính quyền áp bức [6].

Các nhà hoạt động phi bạo lực có một hệ thống tương tự các cuộc vận động phục vụ các mục tiêu xác thực – chương trình xây dựng của Gandhi – chẳng hạn như phát triển các kỹ năng và tổ chức để tự lực cánh sinh kiểu cộng đồng. Người ta thường dễ dàng đồng ý với một mục đích xứng đáng.

Mặc dù vậy, một số vấn đề vẫn chỉ nhận được ít đồng thuận. Một thí dụ điển hình là vấn đề phá thai. Nhiều nhà tranh đấu vì nữ quyền sử dụng các phương pháp phi bạo lực để ủng hộ việc phá thai như là quyền được chọn của phụ nữ, nhưng những người phản đối lại áp dụng các phương pháp phi bạo lực như biểu tình chặn lối vào (picketing) và tẩy chay. Không phải tất cả những người ủng hộ và phản đối phá thai đều đứng về một phía theo đức tin của họ một cách rõ ràng. Rất ít thành viên trong các cuộc đấu tranh chống nạn phá thai là người theo chủ nghĩa hoà bình, chống lại bạo lực trong các lĩnh vực khác như chiến tranh, nhưng vẫn có một số khác, và họ không đứng về một phía. Một số hoàn toàn chống chiến tranh nhưng ủng hộ phá thai như là một phần của niềm tin nữ quyền; số khác hoàn toàn chống lại bạo lực và coi việc phá thai là bạo lực đối với trẻ chưa chào đời.

Một loại chia tách khác liên quan đến hành động phi bạo lực chống lại các chính quyền cánh tả. Thí dụ ở trường hợp Venezuela, một số nhà hoạt động phi bạo lực bày tỏ sự bất đồng trước sự phản đối Tổng thống Chavez như là một phần của chương trình nghị sự của cánh hữu chống chủ nghĩa xã hội và quảng bá chủ nghĩa tân tự do. Số khác tập trung vào việc đàn áp của chính phủ Chavez. Có nhiều địa hạt dành cho phi bạo lực, gồm cả các phong trào của dân thường, ở cấp cơ sở nhằm ủng hộ hoặc chống lại chính phủ.

Liệu hành động phi bạo lực có được sử dụng vào mục đích xấu không? Một số người ủng hộ phi bạo lực thì phủ định lại với định nghĩa: nếu những người áp bức dùng cách biểu tình, tẩy chay hoặc nhịn ăn, thì họ sẽ nói đây thực sự không phải là phi bạo lực.[7] Từ góc nhìn này, khái niệm phi bạo lực bao gồm hai thuộc tính: không có bạo lực thể xác và thúc đẩy vì một thế giới tốt đẹp hơn. Cũng có thể có các thuộc tính khác, chẳng hạn như sự tham gia của dân chúng. Ý kiến của tôi ở đây là cách nhìn này gồm cả phương pháp và mục đích trong khái niệm phi bạo lực.

Định nghĩa này về phi bạo lực dùng vào nhiều mục đích nhưng dẫn đến các khó khăn khi áp dụng vào các trường hợp gây tranh cãi như nạo phá thai và các ế độ cánh tả vốn được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng. Nếu sau này mà những người ủng hộ phi bạo lực thay đổi cách đánh giá của mình đối với một vấn đề – chẳng hạn như từ ủng hộ sang chống đối chính phủ – nghĩa là một hành động có thể thay đổi từ phi bạo lực sang không phi bạo lực hoặc ngược lại. Cách tiếp cận này làm nảy sinh câu hỏi về định nghĩa của phi bạo lực trong các cuộc đối đầu gây tranh cãi.

Những người ủng hộ nguyên tắc phi bạo lực khác nói rằng các phương pháp hành động phi bạo lực là những công cụ có thể được cả hai bên áp dụng trong đấu tranh. Trong một cuộc đụng độ giữa người biểu tình và cảnh sát, phía cảnh sát có thể dùng các phương pháp phi bạo lực như ngồi xuống để chặn đoàn người biểu tình đang di chuyển. Các công ty lớn có thể rút lại vốn đầu tư của họ – đình công tư bản – như một công cụ để chống lại các chính phủ đang cố áp đặt các quy định để bảo vệ người lao động hoặc môi trường. Sharp nêu ra một số thí dụ về cái mà ông gọi là “hành động phản phi bạo lực”, gồm việc cảnh sát Ấn Độ, trong cuộc biểu tình muối (biểu tình bất tuân dân sự phi bạo lực) năm 1930, đã chặn người biểu tình bằng cách ngồi xuống trên đường đi của họ và người theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc  ở Mỹ đóng cửa các quán ăn đang bị các nhà hoạt động dân quyền nhắm đến, và đưa ra bình luận rằng một sự chuyển đổi quan trọng từ đàn áp sang hành động phản phi bạo lực, làm cả hai bên cùng tham gia vào một cuộc xung đột bằng hành động phi bạo lực, “sẽ có những hệ lụy về xã hội và chính trị sâu sắc nhất.”[8]

Các nhà hoạt động có thể không muốn thừa nhận rằng đối thủ của họ cũng có thể áp dụng hành động phi bạo lực, nhưng như vậy sẽ dễ dàng hơn khi nói chuyện về các tình thế khó xử. Có nghĩa là trong một cuộc đấu tranh, bên nào cũng có thể áp dụng phương pháp phi bạo lực và không có gì đảm bảo rằng hành động phi bạo lực được sử dụng vào mục đích tốt đẹp.[9] Ý này đơn giản và dễ hiểu. Các nhà hoạt động cần đưa ra hai đánh giá, về phương pháp và mục tiêu. Các phương pháp cần phù hợp (vì lý do theo nguyên tắc hoặc thực tiễn) và mục tiêu này cần phải thực sự xứng đáng.

Điều này hẳn gây khó chịu cho một số nhà hoạt động phi bạo lực, những người cho rằng lý tưởng của mình là xứng đáng một cách tự nhiên và không muốn thừa nhận rằng đối thủ của họ cũng có thể áp dụng nguyên tắc phi bạo lực, vì đối với suy nghĩ của họ nó sẽ có nghĩa là việc chấp nhận rằng mục tiêu của các đối thủ đó cũng là chính đáng.

Những tình thế khó xử này sẽ không biến mất. Thật vậy, khi sức mạnh của phi bạo lực được công nhận rộng rãi hơn, nhiều hội nhóm sẽ bắt đầu chấp nhận ngôn ngữ đó và các phương pháp phi bạo lực và tình thế khó xử của nguyên tắc phi bạo lực vì mục đích sai trái này có thể trở nên phổ biến hơn.

Phi bạo lực, phương pháp phù hợp nhất?

Cuộc tranh luận bạo lực-phi bạo lực có xu hướng chiếm ưu thế trong các thảo luận về sự phù hợp của nguyên tắc phi bạo lực. Tuy nhiên còn có những vấn đề khác nữa. Thật hữu ích khi quay trở lại định nghĩa về hành động phi bạo lực từ quan điểm thực tiễn. Có ba ranh giới.

Ranh giới đầu tiên và phổ biến nhất là giữa bạo lực và phi bạo lực: hành động phi bạo lực không bao gồm việc sử dụng lực tác động vật lý chống lại đối thủ, do đó việc đánh đập, bắn súng, đánh bom và bỏ tù được loại trừ. Nó cũng loại trừ các phương pháp được bạo lực hậu thuẫn, thí dụ các chế tài kinh tế được yểm trợ bằng lực lượng quân sự.[10]

Ranh giới thứ hai là giữa hành động thông thường và hành động phi bạo lực. Hành động phi bạo lực có nghĩa là vượt ra ngoài các phương pháp hành động chính trị được chấp nhận rộng rãi. Trong các hệ thống của chính phủ đại nghị, các hoạt động thường ngày về bầu cử, vận động hành lang và gửi thư cho các quan chức chính phủ bình thường không được coi là hành động phi bạo lực.

Ranh giới thứ ba là giữa hành động và phát biểu.[11] Nói và viết, khi là các hoạt động thông thường, không tạo thành hành động phi bạo lực.[12] Các loại hình giao tiếp thường ngày, chẳng hạn như bàn chuyện với hàng xóm hay quảng cáo, hiếm được coi là hành động phi bạo lực; nhưng kết nghĩa với quân địch hoặc có kiến nghị trong một chế độ áp bức thì lại chắc chắn là phi bạo lực. Ranh giới ở đây khá mờ. Ngay cả trong các xã hội có sự bảo vệ chính thức về tự do ngôn luận, việc phát ngôn đôi khi có thể là mạo hiểm, thí dụ khi công nhân thách thức chủ doanh nghiệp, và sự phát biểu như vậy có thể được xếp vào phạm trù hành động phi bạo lực.[13]

Hầu hết các tranh cãi về việc liệu sử dụng hành động phi bạo lực có liên quan đến ranh giới đầu tiên, giữa bạo lực và phi bạo lực hay không. Nhưng cũng có các lựa chọn khác được thực hiện liên quan đến hai ranh giới kia, và đôi khi phi bạo lực không phải là cách tiếp cận tốt nhất.

Giả sử trường học nơi bạn ở ra một chính sách xử phạt nghiêm khắc đối với việc phát biểu trong lớp. Học sinh và phụ huynh hẳn sẽ nghĩ rằng chính sách này không công bằng và được áp dụng một cách thất thường. Để phản đối chính sách đó, họ có thể tổ chức một cuộc vận động tẩy chay giáo viên, bất hợp tác với mọi chính sách của nhà trường, và nhịn ăn ngoài cổng trường. Đây là các phương pháp phi bạo lực mạnh mẽ, nhưng liệu có cần thiết không? Hẳn sẽ dễ dàng hơn khi trước tiên là tổ chức một cuộc họp với ban giám hiệu và bàn bạc tìm giải pháp. Vấn đề ở đây là việc chuyển sang các hình thức phi bạo lực mạnh mẽ có phải là quá sớm hay không.

Gandhi khởi xướng đối thoại với các đối thủ như là bước đầu tiên trong các cuộc vận động của ông. Chỉ sau khi cách tiếp cận này thất bại ông mới tiếp tục các cách cao hơn, chẳng hạn như bất hợp tác. Từ cách tiếp cận phi bạo lực có nguyên tắc, đối thoại là một phần của tiến trình đấu tranh phi bạo lực. Tuy nhiên, điều này đặt ra câu hỏi bỏ ngỏ về cách làm thế nào để quyết định phương pháp nào là phù hợp nhất.

Các nhà tổ chức cộng đồng làm rất nhiều việc để thúc đẩy thay đổi xã hội, điển hình ở các khu dân cư nghèo hoặc bị bóc lột.[14] Họ đánh giá các vấn đề và cơ hội, đến từng nhà một để gặp gỡ vận động từng thành viên của cộng đồng, tổ chức mít-tinh, giúp tìm kiếm và phát triển lãnh đạo địa phương và tư vấn về các cuộc vận động. Một số công việc có thể được coi là đặt nền móng cho hành động phi bạo lực, chặng đường đầu tiên trong những giai đoạn của Sharp về hành động phi bạo lực [15], nhưng không nhất thiết phải đạt đến cao trào là hành động phi bạo lực thuộc loại thông thường.

Một nhà tổ chức cộng đồng phải ra các quyết định về cách làm việc tốt nhất trong vùng. Họ có lẽ đã quen với các phương pháp như tụ tập mít-tinh và biểu tình chống giá thuê nhà cao (bằng cách không trả tiền thuê), nhưng việc sử dụng các phương pháp phi bạo lực không phải là mục đích tự thân. Với một nhà tổ chức tốt, lựa chọn phương pháp là việc thứ yếu so với sự trao quyền cho người tại chỗ. Một trong những kỹ năng mà nhà tổ chức học được là các phương pháp nào là phù hợp nhất trong mỗi hoàn cảnh cụ thể. Những tiết mục của họ làm kéo dài ranh giới giữa hành động thông thường và hành động phi bạo lực.

Thực sự có vấn đề gì không khi các phương pháp được sử dụng gọi là đối thoại, tổ chức, hành động thông thường hay hành động phi bạo lực? Rốt cuộc, không cái nào trong số này liên quan đến bạo lực. Lựa chọn về việc phải làm có phải là điều chính yếu?

Đúng vậy, tình thế khó xử đối với các nhà hoạt động phi bạo lực là phải làm gì. Các nhà hoạt động phi bạo lực có nguyên tắc phải quyết định làm gì trong khuôn khổ của một đời sống phi bạo lực. Các nhà hoạt động phi bạo lực thực tế phải chọn sử dụng các phương pháp nào và kết hợp chúng ra sao để tạo thành các cuộc vận động có hiệu quả.

Tác giả: Brian Martin là giáo sư danh dự tại Đại học Wollongong, Úc. Ông là tác giả của 17 cuốn sách và hàng trăm bài viết về đấu tranh phi bạo lực, các cuộc tranh luận khoa học, các vấn đề thông tin, dân chủ và các chủ đề khác. Ông là phó chủ tịch của Whistleblowers Australia và điều hành một website lớn về việc đàn áp bất đồng chính kiến.

Nguồn bài dịchDilemmas in promoting nonviolence

Nguồn ảnh bìa: http://www.peaceread.org

Ghi chú và Tham khảo

  1. Phân biệt giữa hai cách tiếp cận nguyên tắc phi bạo lực lúc đầu được Judith Stiehm đưa ra, “Nonviolence is Two” (Phi bạo lực là số Hai), Sociological Inquiry, 38 (Winter 1968): 23-30, người đã sử dụng các thuật ngữ “conscientious nonviolence” (phi bạo lực có lương tâm)và “pragmatic nonviolence” (phi bạo lực thực tế).Từ đó, “principled” và “pragmatic” đã trở thành các nhãn tiêu chuẩn: xem thí dụ Robert J. Burrowes, The Strategy of Nonviolent Defense: A Gandhian Approach (Chiến lược Phòng vệ phi bạo lực: Một cách tiếp cận Gandhi) (Albany, NY: State University of New York Press, 1996): 112-115; Thomas Weber, “Nonviolence Is Who?” (Phi bạo lực Là Ai?) Gene Sharp và Gandhi, “Peace & Change” (Hòa bình và Thay đổi), 28 (April 2003): 250-270. Các thuật ngữ khác về phi bạo lực thực tế là phi bạo lực chiến lược hoặc cách sử dụng của nhà cải cách về hành động phi bạo lực. Các thuật ngữ này là để tạo ra sự khác biệt. Nói đến phi bạo lực có nguyên tắc không có nghĩa là những người sử dụng phương pháp tiếp cận thực tế thì nhất thiết phải là vô nguyên tắc (unprincipled) – có thể đơn giản là họ có một bộ nguyên tắc khác – và nói đến phi bạo lực thực tế hoặc phi bạo lực chiến lược không có nghĩa là những người ủng hộ cách tiếp cận có nguyên tắc cần phải là phi thực tế(impractical)hoặc không có chiến thuật (unstrategic).
  1. Gene Sharp, The Politics of Nonviolent Action (Chính trị của Hành động phi bạo lực) (Boston: Porter Sargent, 1973). Cũng xem Gene Sharp, Waging Nonviolent Struggle: 20th Century Practice and 21st Century Potential (Tiến hành Đấu tranh phi bạo lực: Thực tiễn thế kỷ 20 và tiềm năng thế kỷ 21) (Boston: Porter Sargent, 2005).
  2. Chisako M. Fukuda, “Peace through Nonviolent Action: The East Timorese Resistance Movement’s Strategy for Engagement,” (Hòa bình thông qua Hành động phi bạo lực: Chiến lược của Phong trào kháng chiến Đông Timor) Pacifica Review 12 (February 2000): 17-31.
  3. Stephen Zunes, “The Role of Non-violent Action in the Downfall of Apartheid,” (Vai trò của Hành động phi bạo lực trong sự sụp đổ của nạn phân biệt chủng tộc) Journal of Modern African Studies, 37, 1 (1999): 137-169.
  4. Gene Sharp, Gandhi as a Political Strategist (Gandhi với tư cách là chiến lược gia chính trị) (Boston: Porter Sargent, 1979).
  5. Thí dụ Peter Ackerman và Jack DuVall, A Force More Powerful: A Century of Nonviolent Conflict (Một lực lượng hùng mạnh hơn: Một Thế kỷ Xung đột phi bạo lực) (New York: St Martin Press, 2000); Sharp, The Politics of Nonviolent Action.
  6. Có lẽ là hợp lý nếu những người ủng hộ này có xu hướng theo truyền thống phi bạo lực có nguyên tắc, nhưng tôi không biết bài nghiên cứu nào về điều này.
  7. Sharp, Politics of Nonviolent Action, 693-695, trích dẫn trang 694.
  8. Ai quyết định thế nào là mục đích tốt? Người tham gia? Quan sát viên? Rất có khả năng hoặc thậm chí có thể để một phong trào phi bạo lực mở trở thành một nguồn lạm dụng chính? Tôi cảm ơn Jack Duvall (personal communication, 4/12/2008) vì đã nêu ra các câu hỏi này, rất đáng được thảo luận sâu rộng.
  9. Các hình thức chế tài kinh tế Iraq từ 1991 đến 2003 là một thí dụ. Xem Geoff Simons, The Scourging of Iraq: Sanctions, Law and Natural Justice (Vụ trừng phạt Iraq: Các chế tài, Luật lệ và Tư pháp tự nhiên),2d ed. (Basingstoke: Macmillan, 1998).
  10. Brian Martin và Wendy Varney, “Nonviolence and Communication,” (Phi bạo lực và Truyền thông),Journal of Peace Research 40, 2 (March 2003): 213-232.
  11. Sharp, Politics of Nonviolent Action, 119, nói rằng “Bình thường, các tuyên bố bằng văn bản hay lời nói, dù là của cá nhân, hội nhóm hay tổ chức, chỉ đơn giản là sự bày tỏ ý kiến, bất đồng hay có ý định, và không phải là các hành động phản đối và thuyết phục phi bạo lực” như ông đã định nghĩa.
  12. Tôi cảm ơn ông Howard Ryan (personal communication, 24/2/2009) do những nhận xét hữu ích về điểm này.
  13. Saul D. Alinsky, Rules for Radicals (Các nguyên tắc đối với các nguyên tố) (New York: Random House, 1971); Robert Fisher, Let the People Decide: Neighborhood Organizing in America (Hãy để mọi người quyết định: Tổ chức tại ở Mỹ) (Boston: Twayne, 1984).
  14. Sharp, Politics of Nonviolent Action, 451-520.

 

Comments

comments