Những tình thế khó xử trong việc thúc đẩy nguyên tắc Phi bạo lực – (P2)

Phi bạo lực để ủng hộ bạo lực – và ngược lại

Đối với những người thực hành phi bạo lực, việc pha trộn một chút bạo lực là chuyện đầy rủi ro. Thậm chí nếu có vài người tham gia trong một cuộc biểu tình ôn hòa ném đá hoặc tấn công vào cảnh sát, thì có thể sẽ dễ dàng làm thay đổi cảm nhận của công chúng về cuộc biểu tình đó, với các nhà quan sát suy luận một cách không đúng rằng họ đang phá hoại chứ không phải thay đổi xã hội.[16] Việc sử dụng bạo lực có xu hướng làm giảm sút sự tham gia của quần chúng trong đấu tranh và giảm sút các cơ hội gây chia rẽ trong cấu trúc trung thành của kẻ áp bức.[17] Các phương tiện truyền thông thường tập trung vào một vài trường hợp bạo lực, bỏ qua phần còn lại của những gì đã xảy ra. Các hành vi bạo lực nhỏ của người biểu tình có thể tạo cớ cho cảnh sát sử dụng bạo lực của họ, mà thường là khốc liệt hơn nhiều.

Do đó, các nhà hoạt động phi bạo lực thường phải chuẩn bị kỹ lưỡng để tránh bị kích động vào chỗ sử dụng bạo lực. Gene Sharp cho rằng “đoàn kết và kỷ luật để chiến đấu chống đàn áp” chính là một yếu tố quan trọng của các chiến dịch phi bạo lực.[18] Một tiến trình quan trọng, nhu thuật chính trị (political ju-jitsu), xuất hiện khi nhà cầm quyền sử dụng bạo lực chống lại người biểu tình ôn hoà: điều này được xem là không công bằng và có thể làm gia tăng sự ủng hộ người biểu tình.[19] Nếu không có kỷ luật phi bạo lực, nhu thuật chính trị không thể diễn ra được và cuộc vận động có thể bị tan rã.

Nguồn ảnh: http://partage-le.com

Tương tự như vậy, những người theo phái phòng vệ phi bạo lực – còn gọi là phòng vệ trên cơ sở dân sự hay phòng vệ xã hội – như là một phương án thay thế cho phòng vệ quân sự thường cho rằng việc pha trộn các phương pháp vũ trang và phi bạo lực là khó.[20] Kháng cự có vũ trang có thể làm suy yếu tính hiệu quả của nguyên tắc phi bạo lực.

Dù có các căng thẳng liên quan đến việc pha trộn hành động bạo lực và phi bạo lực, có nhiều thí dụ nơi nó xuất hiện. Cuộc kháng chiến chống Đức quốc xã chiếm đóng gồm cả chiến tranh du kích và hành động phi bạo lực [21]. Kháng chiến ở Đông Timor chống lại Indonesia chiếm đóng gồm đấu tranh vũ trang và biểu tình phi bạo lực.[22] Ở Philippines, kháng chiến chống lại nhà độc tài Ferdinand Marcos gồm có cả cuộc nổi dậy của phiến quân cộng sản có vũ trang ở các tỉnh, kết hợp với phong trào quyền lực nhân dân ở Manila, được thể hiện rõ nhất vào năm 1986.[23] Ở Nam Phi, hành động bạo lực và phi bạo lực đã được sử dụng tại các thời điểm khác nhau trong cuộc đấu tranh chống chế độ phân biệt chủng tộc.[24]

Bạo lực thường làm suy yếu hiệu quả của hành động phi bạo lực, nhưng đây là một xu hướng hơn là nguyên tắc bất di bất dịch. Nếu có sự ủng hộ áp đảo đối với lý tưởng của các nhà hoạt động, thì nếu một chút bạo lực có lẽ cũng không sao. Một yếu tố nữa là sự tách biệt: với các trường hợp Đông Timor và Philippines, kháng chiến vũ trang diễn ra ở vùng nông thôn còn phản kháng phi bạo lực là ở thành thị. Ở Nam Phi, kháng cự phi bạo lực trong cuộc đấu tranh chống chế độ phân biệt chủng tộc là cách tiếp cận được ưa chuộng trong các giai đoạn khác nhau hơn là bạo lực. (Việc đấu tranh vũ trang hay các hình thức bạo lực khác có thực sự hỗ trợ cho các nỗ lực phi bạo lực trong các trường hợp đó, cũng như các trường hợp khác hay không thì vẫn là điều cần phải bàn.)

Trong khi bạo lực thường làm suy yếu hành động phi bạo lực, có rất nhiều trường hợp trong đó hành động phi bạo lực đã hỗ trợ hành động bạo lực. Hầu như cuộc chiến tranh nào thì cả hai phía cũng đều sử dụng các biện pháp như tụ tập mít-tinh, phản đối ngoại giao, tẩy chay và rút vốn đầu tư. Đúng là khó hình dung ra được một cuộc xung đột nào liên quan đến bạo lực mà lại không có hành động phi bạo lực.[25]

Có một mối liên hệ nữa giữa bạo lực và phi bạo lực ít nhận được chú ý hơn: đôi khi các nhà hoạt động phi bạo lực dựa vào các hệ thống bạo lực để đạt được mục đích của mình. Trong các cuộc vận động dân quyền Mỹ, cuộc đối đầu chủ yếu là giữa những người ủng hộ xoá bỏ nạn phân biệt chủng tộc (desegregation), cam kết nguyên tắc phi bạo lực và những người da trắng bênh vực phân biệt chủng tộc, gồm cảnh sát và dân phòng, những người sử dụng bạo lực. Các cuộc vận động phù hợp với hình mẫu tiêu chuẩn của động năng phi bạo lực, với các cuộc tấn công dữ dội người biểu tình làm công chúng phẫn nộ, suy giảm sự ủng hộ các chính sách phân biệt chủng tộc.

Nhưng có một yếu tố quan trọng khác: chính quyền liên bang Mỹ. Được dư luận khuyến khích, chính quyền liên bang đã can thiệp vào các bang miền Nam để bảo vệ người biểu tình dân quyền, ngăn chặn các cuộc tấn công của người da trắng và đưa thủ phạm ra toà. Chắc chắn đã có nhiều thiếu sót và sự phức tạp trong vai trò của chính quyền liên bang (không hề là hoàn toàn tuân thủ luật pháp và nhân đạo), nhưng điểm chính ở đây là sự thành công của người biểu tình đã được hỗ trợ bởi sự can thiệp của một bên có vũ trang mạnh hơn. (Có người sẽ nói rằng phong trào dân quyền vẫn có thể thành công kể cả khi không có sự can thiệp của chính quyền liên bang.[26])

Việc này nói lên điều gì về sức mạnh của hành động phi bạo lực? Phải chăng nó có nghĩa “hành động phi bạo lực phụ thuộc vào bạo lực?”

Chắc chắn không phải: Có rất nhiều cuộc vận động phi bạo lực đã thành công mà không cần sự ủng hộ của bất kỳ phe phái, lực lượng có vũ trang nào. Thí dụ như nhiều chế độ áp bức đã bị lật đổ với rất ít hoặc không có trợ giúp vũ trang trong nước hay nước ngoài [27].

Hành động phi bạo lực chắc chắn có thể thành công trước các đối thủ bạo lực. Nhưng liệu nó có nghĩa là các nhà hoạt động nên từ chối sự ủng hộ của các chính phủ hay hội nhóm khác có khả năng sử dụng vũ lực không? Câu hỏi này không nhận được nhiều quan tâm.[28] Tuy nhiên, nó là thích đáng trong rất nhiều trường hợp đấu tranh chống lại các công ty hoặc chính quyền sở tại. Rất ít công ty có khả năng áp dụng đáng kể bạo lực của chính họ: khi cần thì họ trông chờ vào cảnh sát hoặc lực lượng bảo vệ tư nhân để bảo vệ các lợi ích của họ. Nhưng cảnh sát thì không nhất thiết trợ giúp họ.

Năm 1998, Patrick, công ty bốc xếp của Australia, với sự trợ giúp bí mật của chính phủ liên bang Australia, đã sa thải toàn bộ nhân công và nhận vào làm các lao động đã qua đào tạo tại Dubai. Nghiệp đoàn Hàng hải Australia đã tổ chức biểu tình tại các cảng, được các thành viên trong cộng đồng ủng hộ. Patrick đã thuê nhân viên bảo vệ để ngăn cản công nhân không cho vào cầu cảng, nhưng các nhân viên thừa hành đội mũ bịt mặt này đã gây ra điều tiếng xấu trong công luận và làm tổn hại cho mục đích của Patrick. Trong khi đó – và đây là điểm chính – cảnh sát sở tại đã không làm gì để phá biểu tình. Chính phủ hẳn thích việc này, nhưng phía cảnh sát lại lo ngại rằng danh tiếng của họ sẽ bị tổn hại nếu họ tấn công người biểu tình, những người gồm cả gia đình và bạn bè của công nhân.[29] Trong trường hợp này, người biểu tình đã nhận được sự ủng hỗ ngầm cho các hành động của họ.

Tại đầu kia của dải phổ là khi hành động phi bạo lực được dùng để hỗ trợ một tổ chức được hậu thuẫn bằng vũ lực. Điều này xảy ra bất cứ khi nào hành động phi bạo lực được sử dụng để chống lại một vụ đảo chính – nổi bật là vụ Kapp Putsch năm 1920 ở Đức, cuộc nổi dậy của các tướng lĩnh Algeria năm 1961 và đảo chính ở Liên Xô năm 1991 – hay tự vệ chống quân xâm lược, như ở Đức năm 1923 và Tiệp Khắc năm 1968. Phần chính yếu của các trường hợp này và các trường hợp khác là tính hợp pháp: nhân dân hành động thay mặt cho một hệ thống hoặc trạng thái mà họ muốn bảo vệ chống lại sự thôn tính.

Điều hoàn toàn có thể xảy ra trong những trường hợp như vậy là hành động phi bạo lực được thực hiện nhân danh mục tiêu sai trái, tuy nhiên điều đó có thể được phán xét. Năm 1968, quân đội Tiệp Khắc đã không chống lại cuộc xâm lược của khối Hiệp ước Warsaw, việc mà dù sao cũng trở nên vô ích. Những người phản đối phong trào tự do ở Tiệp Khắc hồi đó sẽ phán xét rằng cuộc kháng chiến của nhân dân chống lại hành động xâm lược do Liên Xô dẫn đầu là sai lầm.

Điều này dẫn đến một vấn đề liên quan: hành động phi bạo lực trong một tình huống khi nó hỗ trợ một chương trình nghị sự được ủng hộ bởi các tổ chức được hậu thuẫn bằng vũ lực. Hành động phi bạo lực chống lại chính phủ Chavez ở Venezuela là một thí dụ: nó hỗ trợ chương trình nghị sự của chính phủ Mỹ, ít nhất là dưới chính quyền George W. Bush. Thế thì sao? Những mối liên kết như vậy là thường tình, thực tế hầu như không thể tránh khỏi. Cuộc kháng chiến chống lại Đức quốc xã đã giúp cho chiến dịch quân sự của quân Đồng minh và cuộc kháng chiến của Tiệp Khắc chống xâm lược năm 1968 có thể nói là đã hỗ trợ cho chương trình nghị sự chiến tranh lạnh của khối tư bản.

Ngay khi các cuộc đấu tranh bị đặt vào một khuôn khổ một chiều, với sự lựa chọn là ủng hộ hoặc chống lại một thế lực nào đó có chính nghĩa, thì hành động phi bạo lực có thể bị coi là ủng hộ cho mục đích sai trái. Mặc dù vậy, vấn đề thường phức tạp hơn. Phản kháng của Tiệp Khắc năm 1968 là một phần của cuộc đấu tranh rộng lớn hơn đối với chủ nghĩa xã hội nhà nước và dẫn tới sự chia rẽ trong các đảng cộng sản ở nhiều nước.

Tóm lại, phi bạo lực thực sự có thể được sử dụng để nâng đỡ các hệ thống bạo lực và ngược lại. Việc sử dụng hành động phi bạo lực có thể dễ dàng được biện minh trong nhiều tình huống như vậy; ở những nơi khác thì phức tạp hơn rất nhiều và tình thế ngược lại, không có câu trả lời dễ dàng. Điều quan trọng là phải cởi mở về các vấn đề liên quan. Do phi bạo lực có tính mở và khó sử dụng để đàn áp, vị trí mặc định nên là hành động phi bạo lực là hợp pháp, trách nhiệm chứng minh là của những người nói khác đi – nhất là các chính phủ có thái độ chỉ trích các phong trào phi bạo lực [30].

Nguồn ảnh: https://www.globalcitizen.org

Tham gia hoạt động so với trợ giúp hoạt động phi bạo lực

Tham gia trực tiếp vào hành động phi bạo lực và trợ giúp hành động đó là 2 chuyện khác nhau. Với những người tham gia, đó là đang hoạt động chính trị: sự ủng hộ của một người cho một mục tiêu được ngầm thể hiện trong các hành động mà họ thực hiện cho mục tiêu đó.

Phần lớn cuộc tranh luận về phi bạo lực và chủ nghĩa đế quốc – sẽ được thảo luận sau – liên quan đến việc trợ giúp phi bạo lực. Trợ giúp trong bối cảnh này thừng có ý nghĩa là thông tin và đào tạo, thí dụ: giải thích lý thuyết đồng thuận của quyền lực của Sharp, bàn về các chiến lược trong các cuộc vận động trước đó, giúp chuẩn bị một phân tích về người chơi và các tuỳ chọn, sắm vai, giới thiệu các bài báo, sách và video, và hướng dẫn về các chiến lược và hành động. Điều gì sẽ xảy ra khi việc trợ giúp là sai lầm? Có gì cần tránh không?

Nhiều trợ giúp cho phi bạo lực được đưa ra trong hàng ngũ những người tham gia. Một số thì qua giảng dạy, chẳng hạn khi các nhà hoạt động nhiều kinh nghiệm đứng ra tổ chức hội thảo cho các thành viên mới. Hẳn sẽ có nhiều kiến thức hơn xuất hiện trong tiến trình tổ chức và vận động. Đây là một đặc điểm tiêu chuẩn của giáo dục trong các phong trào xã hội. Không ai nghi ngờ về điều này.

Những người chỉ trích đối với phi bạo lực đã tập trung vào sự trợ giúp của người bên ngoài, nghĩa là những người không tham gia trực tiếp vào các cuộc vận động. Thực tế có một lịch sử lâu đời về việc này. Các nhà hoạt động phi bạo lực thường xuyên đi lại và chia sẻ kiến thức và kỹ năng của họ với những người khác. Đây là cách đào tạo rộng rãi về phi bạo lực đã được toàn cầu hóa. Thường việc này được thực hiện trên cơ sở cá nhân, không chính thức. Đôi khi nó được tổ chức rất cao, chẳng hạn như với nhóm Training for Change (Đào tạo để Thay đổi), có trụ sở tại Philadelphia.

Có một số cạm bẫy tiềm tàng. Điều gì sẽ xảy ra nếu chất lượng trợ giúp thấp? Không có bằng cấp nào về phi bạo lực và cũng không có giấy phép của người hành nghề. Những người huấn luyện dựa vào danh tiếng của mình trong nhóm đồng đẳng. Có nên chính thức hoá việc đánh giá các cố vấn phi bạo lực? Vấn đề này ít được quan tâm.

Một vấn đề phát sinh khác trong việc đưa ra tư vấn chiến lược và chiến thuật chi tiết. Jack DuVall thuộc Trung tâm Quốc tế về Xung đột phi bạo lực (ICNC) chia các trợ giúp thành ba loại: (1) thông tin và giáo dục tổng quát về hành động phi bạo lực và chiến lược; (2) tạo điều kiện thuận lợi cho chiến lược, gồm giúp đỡ các nhóm phát triển và đánh giá các tuỳ chọn và kế hoạch hành động mà không cần giới thiệu các việc cụ thể; (3) ra quy định về chiến lược và chiến thuật. Ông nói rằng hầu hết các tổ chức trợ giúp hành động phi bạo lực chiến lược đều tập trung vào loại thứ nhất, nhằm chuyển giao kiến thức. ICNC từ chối hỗ trợ theo kiểu loại thứ ba vì không tuân thủ các nguyên tắc luân lý – nó liên quan đến đưa ra lựa chọn cho những người phải chấp nhận rủi ro – và không hiệu quả, vì những người ngoài cuộc không hiểu được hết tình hình tại chỗ.[31]

Một cạm bẫy nữa là tư vấn cho các bên có tiềm năng trở thành thù địch. Việc giúp đỡ cảnh sát hiểu biết về hành động phi bạo lực xem ra là một ý tưởng tốt nếu điều đó giúp họ phản ứng với các nhà hoạt động theo cách chính thức và có óc xét đoán hơn chứ không phải đối xử như một mối đe dọa chết chóc phải khuất phục bằng dùi cui. Mặt khác, cảnh sát có thể dùng kiến thức về phi bạo lực của họ để phát triển nhiều kỹ thuật kiểm soát hiệu quả hơn. Có thể làm gì để đảm bảo kiến thức về phi bạo lực sẽ được sử dụng một cách thích hợp?

Một câu trả lời là sự lo ngại về việc kiến thức chung về phi bạo lực bị sử dụng cho mục đích thù địch là lạc đề, vì hiện đã có rất nhiều thông tin được phổ biến công khai. Có các tài liệu sâu rộng trên mạng; sách báo bán sẵn. Những người ủng hộ phi bạo lực không giấu giếm phương pháp của họ.

Jørgen Johansen và tôi đã viết một bài báo về cách làm cho các cuộc biểu tình có hiệu quả hơn: bài được xuất bản trong Gandhi Marg và có trên mạng.[32]Jørgen đặt câu hỏi, “Chúng ta có ủng hộ tất cả các nhà hoạt động và các phong trào mà nhận thấy bài báo của chúng ta là hữu ích trong các cuộc đấu tranh của họ không?” Tất nhiên là không rồi. Sau đó ông hỏi tiếp “Các cuộc mít tinh và hội thảo có khác nhiều so với việc ấn hành sách hoặc làm và phân phối video?” Ông cũng lưu ý rằng thứ ngược lại với việc giúp đỡ mọi người có thể tiếp cận với các tài liệu là việc hạn chế sự lan tỏa của thông tin – điều mà hầu như không bao giờ gặp phải trong lĩnh vực phi bạo lực [33].

Vấn đề gây tranh cãi nhất là việc hướng dẫn chi tiết cho các nhà hoạt động trong các chiến dịch cụ thể. Điều có thể gây khó xử nhất nảy sinh từ việc không nắm được động lực hoặc mục tiêu của những người đang tìm kiếm sự tư vấn. Nếu một người huấn luyện về phi bạo lực nhận được lời đề nghị từ một nhóm cộng đồng để tổ chức hội thảo, thì việc trợ giúp liệu có phải là hợp lý? Hay sẽ cần phải tìm hiểu thật kỹ để đảm bảo đó không phải là một tổ chức bình phong của một công ty hoặc cơ quan chính phủ đang có tai tiếng về đạo đức?

Chuyện này có thể được so sánh với việc tố cáo các sai phạm trong xã hội (whistleblowing).[34] Các hội nhóm chuyên về tố cáo sai phạm thường được tiếp cận bởi các cá nhân đi tìm kiếm trợ giúp. Một số trong đó có vẻ thực sự là những người tố cáo chân chính, còn một số khác thì không phải. Tuy nhiên, việc phân tích chi tiết về các yêu sách và thiện ý của các cá nhân thì lai vượt quá khả năng của các nhóm tình nguyện. Hơn nữa, việc kiểm tra, mổ xẻ quá kỹ có thể làm hại người tố cáo thực sự, những người vốn liên tục phải hứng chịu sự khước từ và coi thường. Tại Whistleblowers Australia – một tổ chức chủ yếu bao gồm những người tố cáo sai phạm và không có đội ngũ nhân viên được trả lương, chính sách ở đây là không ủng hộ, bênh vực nhân danh các cá nhân. Những gì được cung cấp là thông tin, địa chỉ liên hệ và lời khuyên.

Hầu hết những người đến gặp Whistleblowers Australia để xin trợ giúp là những người thực sự có các vấn đề chính đáng, nhưng một số khác thì chỉ là có những bức xúc mang tính cá nhân. Một số khác thậm chí còn là những kẻ lừa đảo hoặc tội phạm. Điều có vẻ có tác dụng tốt là cung cấp cho tất cả những người đến gõ cửa đó cùng một mức độ tiếp cận đối với thông tin và khuyến nghị. Những người mà không phải là người tố cáo sai phạm chân chính sẽ thường bỏ đi từ rất sớm vì không thu được những gì họ đang tìm kiếm.[35]

Không có bằng chứng nào cho thấy bất cứ ai trong số những người tìm kiếm lời khuyên về việc tố giác sai phạm thực ra đều là các chủ doanh nghiệp và muốn biết cách nào để đạt hiệu quả hơn trong việc xách nhiễu hoặc loại bỏ những người tố giác sai phạm. Nếu họ có mặt ở một cuộc mít tinh và nghe được hết chuyện này đến chuyện khác của những cá nhân cố gắng làm điều tốt và chịu đau khổ vô cùng do bị trả thù, rất có thể họ sẽ bắt đầu nhìn lại các vấn đề theo một cách khác.

Roy Baumeister đã nghiên cứu về mặt nhận thức, quan niệm của những người phạm các tội như hành hung, giết người và thảm sát hàng loạt – gây biết bao đau thương cho các nạn nhân.[36] Ông nhận thấy những kẻ thủ ác đó rất ít khi nghĩ rằng mình đã làm điều gì đó khủng khiếp. Thông thường, trong đầu họ tự giảm thiểu hậu quả mà các nạn nhân phải chịu, biện minh cho các hành động của họ bằng cách đổ lỗi cho nạn nhân, quên đi toàn bộ câu chuyện một cách nhanh chóng và đôi khi nghĩ mình mới là nạn nhân thực sự. Baumeister đưa ra kết luận rằng, hình mẫu thông thường trong đó những kẻ phạm tội đều là dạng hành động có tính toán và máu lạnh là sai lầm. Những kẻ này nghĩ chính chúng mới là người làm điều đúng đắn hoặc có thể biện minh.

Theo đó, những chủ doanh nghiệp đi trả thù người tố cáo rất có thể sẽ nghĩ rằng điều họ đang làm là chính đáng. Họ nghĩ rằng người lao động đã làm điều sai trái – họ không sử dụng từ “tố giác” – và rằng mọi hành động họ làm liên quan đến người nhân viên kia đều hợp lý. Kết luận này phù hợp với một vài nghiên cứu về lối suy nghĩ của chủ doanh nghiệp trong tình huống này.[37]

Điều này dường như cũng áp dụng đối với việc đưa ra lời khuyên, tư vấn về hành động phi bạo lực. Thứ nhất, hầu hết những người tìm kiếm trợ giúp để thực hiện hành động phi bạo lực đều thấy mình như đang đấu tranh chống lại một đối thủ hùng mạnh, nhất là đối thủ đó có thể sử dụng bạo lực. Nếu người tư vấn quyết định đưa ra lời khuyên cho tất cả những người đến xin tư vấn, thì những người nào đang điều hành các tổ chức phân cấp có khả năng sử dụng bạo lực, chẳng hạn như cảnh sát trưởng, chỉ huy quân đội hoặc lãnh đạo doanh nghiệp, rất có thể sẽ không muốn truyền lại cho những người cấp dưới biết, nghĩa là họ không hề muốn dạy và đào tạo các thành viên trong chính tổ chức của họ cách thực hiện hành động phi bạo lực. Suy cho cùng, việc biết cách làm sao để rút lại sự đồng thuận có thể được sử dụng để chống lại hệ thống phân cấp này.

Trong một vài trường hợp, những người tìm kiếm thông tin về hành động phi bạo lực muốn biết cách đối phó với một đối thủ đang sử dụng nó. Nhưng điều này rất có thể sẽ để lại hậu quả tai hại phải không? Nên nhớ rằng những người sử dụng bạo lực rất ít khi coi bản thân mình là những kẻ thủ ác lạnh lùng và có tính toán. Thay vào đó, họ thấy bản thân mình có chính nghĩa hoặc có thể biện minh.

Bởi vậy nên chắc chắn có một số người đi tìm hiểu về hành động phi bạo lực cốt để chống lại nó hoặc sử dụng nó vào mục đích xấu. Vậy thì sao? Liệu điều đó có làm mất giá trị của hành động phi bạo lực không?

Một số nhà hoạt động sẵn lòng đào tạo về cách thực hiện hành động phi bạo lực cho các “đối thủ” của họ, tức những người theo đuổi những mục tiêu mà họ chống lại. Jørgen Johansen, một nhà hoạt động đầy kinh nghiệm thuộc tổ chức War Resisters’ International (một tổ chức quốc tế chống chiến tranh), nói ông đã thực hiện điều này và đưa ra một vài lý do. Một lý do là ông tin rằng các công cụ được sử dụng sẽ có tác động trở lại lên người sử dụng: việc sử dụng phi bạo lực có thể giúp chuyển hóa các nhà hoạt động. Lý do nữa là ông đồng quan điểm với Gandhi rằng họ cần phải cởi mở đối với các quan điểm của đối thủ, lưu ý rằng đôi khi quan điểm về những vấn đề cụ thể không phải là bất biến: các nhà hoạt động không phải lúc nào cũng có giải pháp đúng đắn. Lý do nữa là ông thà đối đầu với các đối thủ sử dụng hình thức phi bạo lực hơn là những người sử dụng bạo lực. Ông muốn nhiều người hơn nữa trở thành nhà hoạt động phi bạo lực, ngay cả khi ông bất đồng với mục đích tranh đấu của họ và thậm chí nếu hành động phi bạo lực có hiệu quả hơn cho họ so với bạo lực. Ông nói: “Nếu những kẻ theo tư tưởng tân phát-xít chuyển sang sử dụng các hinh thức phi bạo lực, thì hẳn là tình hình ở nhiều nơi trên thế giới sẽ tốt hơn. Nhưng ai sẽ nhận nhiệm vụ thuyết phục hay đào tạo cho những người đó ? – điều này tôi không trả lời được.”[38]

Tác giả: Brian Martin là giáo sư danh dự tại Đại học Wollongong, Úc. Ông là tác giả của 17 cuốn sách và hàng trăm bài viết về đấu tranh phi bạo lực, các cuộc tranh luận khoa học, các vấn đề thông tin, dân chủ và các chủ đề khác. Ông là phó chủ tịch của Whistleblowers Australia và điều hành một website lớn về việc đàn áp bất đồng chính kiến.

Nguồn bài dịchDilemmas in promoting nonviolence

Nguồn ảnh bìa: http://partage-le.com

Đọc thêm tại:

Những tình thế khó xử trong việc thúc đẩy nguyên tắc Phi bạo lực – (P1)

Ghi chú và Tham khảo

  1. Max Abrahms, “Why Terrorism Does Not Work,” (Tại sao khủng bố không có tác dụng) International Security 31, 2 (Fall 2006): 42-78.
  2. Tôi cảm ơn Jack DuVall (personal communication, 4/12/2008) vì các điểm này.
  3. Sharp, Politics of Nonviolent Action, 573-655.
  4. Ibid., 657-703.
  5. Xem thí dụ Anders Boserup và Andrew Mack, War Without Weapons: Non-Violence in National Defence (Cuộc chiến không vũ khí: Nguyên tắc phi bạo lực trong Quốc phòng) (London: Frances Pinter, 1974), 140-147.
  6. Werner Rings, Life with the Enemy: Collaboration and Resistance in Hitler’s Europe 1939-1945 (Cuộc sống với kẻ thù: Cộng tác và kháng chiến ở châu Âu dưới thời Hitler 1939-1945, J. Maxwell Brownjohn dịch) (London: Weidenfeld and Nicolson, 1982); Jacques Semelin, Unarmed against Hitler: Civilian Resistance in Europe, 1939-1943 (Không được vũ trang chống lại Hitler: Kháng chiến dân sự ở châu Âu, 1939-1943) (Westport, CT: Praeger, 1993).
  7. Fukuda, “Peace through Nonviolent Action.”
  8. MoninaAllarye Mercado, ed., People Power: An Eyewitness History: The Philippine Revolution of 1986 (Sức mạnh nhân dân: Một nhân chứng Lịch sử: Cách mạng Philippine 1986) (Philadelphia: Library Company of Philadelphia, 1987).
  9. Leo Kuper, Passive Resistance in South Africa (Phản kháng thụ động ở Nam Phi) (New Haven, CT: Yale University Press, 1960); Zunes, “The Role of Non-violent Action in the Downfall of Apartheid.”
  10. Tôi cảm ơn Jørgen Johansen (personal communication, 26/11/2008) vì đã nhấn mạnh điểm này.
  11. Tôi cảm ơn Jack DuVall (personal communication, 4/12/2008) vì điểm này.
  12. Xem thí dụ Patricia Parkman, Insurrectionary Civic Strikes in Latin America 1931-1961 (Các cuộc đình công nổi dậy ở châu Mỹ La tinh 1931-1961) (Cambridge, MA: Albert Einstein Institution, 1990); Stephen Zunes, “Unarmed Insurrections against Authoritarian Governments in the Third World: A New Kind of Revolution,” (Các cuộc nổi dậy không vũ trang chống chính phủ độc tài ở Thế giới Thứ Ba: Một loại cách mạng kiểu mới), Third World Quarterly 15, 3 (2004): 403-426.
  13. Để thảo luận hữu ích về ưu và nhược điểm của trợ giúp nước ngoài cho các cuộc vận động, xem Maria J. Stephan and Erica Chenoweth, “Why Civil Resistance Works: The Strategic Logic of Nonviolent Political Conflict,” (Tại sao kháng cự dân sự có tác dụng: Logic chiến lược về Xung đột Chính trị phi bạo lực) International Security, 33, 1 (2008): 7-44.
  14. David Baker, Batons và Blockades: Policing Industrial Disputes in Australasia (Kiểm soát các tranh chấp công nghiệp tại Australasia) (Melbourne: Circa, 2005).
  15. Jack DuVall (personal communication, 4/12/2008) bình luận “Hiện đang có nhiều nỗ lực, được chính phủ Nga, Trung Quốc và Iran tích cực xúc tiến, nhằm làm mất uy tín kháng cự dân sự có tổ chức như một âm mưu do Mỹ tài trợ để khởi xướng “các cuộc cách mạng màu”. Chính phủ Nga phản đối việc mất ảnh hưởng của mình đối với Ukraine và Gruzia, và bảo vệ ảnh hưởng của nó với Belarus và phần lớn các nước cộng hòa ở Trung Á. Lãnh đạo Trung Quốc phản đối các phương tiện truyền thông xấu về Tây Tạng và lo lắng về tất cả các cuộc biểu tình khác nhau trên đường phố và nhà máy của chính họ. Chế độ Iran bị ám ảnh bởi nhận biết hoặc hiểu biết về từng người ủng hộ quyền phụ nữ hoặc quyền sinh viên, những người duy trì được một blog nổi tiếng. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi họ đổ lỗi cho bất kỳ cuộc biểu tình phản đối nào nhắm tới các khách hàng hoặc chính sách của họ về sự tài trợ từ bên ngoài hoặc từ Mỹ đã được khẳng định, vì rất thuận tiện trong nỗ lực phủ nhận rằng những người biểu tình đó có những bất bình chính đáng.”
  16. Jack DuVall, personal communication, 4/12/2008.
  17. Jørgen Johansen và Brian Martin, “Sending the Protest Message,”(Gửi tin nhắn phản đối) Gandhi Marg 29, 4 (January-March 2008): 503-519.
  18. Jørgen Johansen, personal communication, 26/11/2008.
  19. Brian Martin, “Whistleblowing and Nonviolence,”(Tố cáo và Phi bạo lực) Peace & Change 24, 1 (January 1999): 15-28.
  20. Brian Martin, The Whistleblower’s Handbook: How to Be an Effective Resister(Sổ tay Người tố cáo: Cách nào để trở thành một người phản đối hiệu quả) (Charlbury, UK: Jon Carpenter, 1999), 136-143.
  21. Roy F. Baumeister, Evil: Inside Human Violence and Cruelty (Bên trong bạo lực và sự tàn ác của con người) (New York: Freeman, 1997).
  22. Robert Jackall, Moral Mazes: The World of Corporate Managers (Thế giới các nhà quản trị doanh nghiệp) (New York: Oxford University Press, 1988).
  23. Jørgen Johansen, personal communication, 26/11/2008.

 

Comments

comments