Những tình thế khó xử trong việc thúc đẩy nguyên tắc Phi bạo lực – (P3)

Adam Maida

Phi bạo lực như là một công cụ không trung lập

Khi cân nhắc về những tình thế khó xử này, sẽ là hữu ích nếu coi phi bạo lực – nhất là các phương pháp phi bạo lực – như là các công cụ. Công cụ là bất cứ thứ gì có thể dùng để giúp thực hiện một nhiệm vụ. Búa, súng, cầu đường và máy vi tính đều là công cụ. Chúng là đồ tạo tác, do người làm ra. Có rất nhiều ý tưởng và bài viết về công nghệ có thể được ứng dụng cho các phương pháp phi bạo lực.[39]

Nhiều người tin rằng công nghệ mang tính trung lập bởi chúng có thể được dùng cho các mục đích khác nhau: máy tính có thể được quân đội hoặc một nhóm yêu hòa bình sử dụng. Nhưng thực tế là bất kỳ một công nghệ cụ thể nào cũng luôn được sử dụng dễ dàng vào một số mục đích này so với các mục đích khác. Với nghĩa đó, công nghệ không phải là thứ trung lập. Một chiếc búa rất tốt để đóng móng (ngựa…) nhưng lại tồi trong việc đào hố và rất tai hại đối với việc phẫu thuật não. Các loại công nghệ khác cũng thế: một số sử dụng dễ dàng hơn số khác. Một số phần mềm thiết kế để tính toán quỹ đạo tên lửa; nhưng lại không hữu ích để chạy đầu CD.

Tôi dùng các thí dụ đơn giản ở đây vì rất nhiều người còn tin rằng công nghệ là thứ trung lập.[40] Ví dụ rõ nhất để thấy rằng công nghệ thực ra không trung lập là các loại vũ khí: tàu sân bay, tên lửa hành trình và mìn có tác dụng đối với mục đích quân sự nhưng ngoài ra thì không có tác dụng gì mấy. Lựu đạn có thể dùng làm cái chặn giấy hoặc bày bảo tàng triển lãm nhưng hầu hết chúng được dùng để giết chóc và phá hoại.

Một số công nghệ thì có tính linh hoạt, có thể thích ứng với nhiều mục đích khác nhau. Giấy và mã máy tính là những thí dụ. Những thứ khác thì chuyên biệt hơn, chẳng hạn như giày dép, tàu hoả, và vũ khí lây truyền bệnh than.

Công cụ, do không có tính trung lập, nên có thể coi là có tính chính trị, với hàm ý đến việc thực thi quyền lực. Có thể nói chuyện về mặt chính trị của công nghệ, cụ thể là việc thiết kế và sử dụng công nghệ để phục vụ cho một số hội nhóm và mục đích hơn là những thứ khác.[41]

Nếu một công cụ không có tính trung lập, làm cách nào để đánh giá được tính chính trị của nó? Nói một cách khác, làm cách nào để xác định được rằng công cụ đó có ích nhất cho cái gì? Một cách là xem xét nguồn gốc của công nghệ, tức là ai đã phát triển nó và để làm gì. Thí dụ súng bazooka được thiết kế và sản xuất cho quân đội, do đó không ngạc nhiên khi đó là cách dùng chủ yếu của nó. Tuy nhiên, nguồn gốc không quyết định đường đi của một công nghệ. Trường hợp nổi tiếng nhất là Internet, có nguồn gốc từ nghiên cứu quân sự để đảm bảo khả năng thông tin liên lạc ổn định sau một cuộc tấn công hạt nhân.[42] Tuy nhiên, Internet, một công nghệ rất linh hoạt, đã cho ta thấy nhiều cách sử dụng vượt ra khỏi nguồn gốc của nó.

Một cách nữa để đánh giá công nghệ là thông qua các tính chất của chúng. Chẳng hạn các công nghệ truyền thông có thể được phân loại thành loại tập trung hay loại mạng lưới. Các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình phát sóng là loại tập trung còn điện thoại và email là thông tin kiểu mạng lưới.

Cách thứ ba để đánh giá công nghệ là theo người sử dụng và theo mục đích. Nhiều loại vũ khí, nhất là vũ khí hạt nhân, chỉ được quân đội sử dụng vào mục đích quân sự.

Tương tự như việc công nghệ có thể được đánh giá là không trung lập, một loạt các thứ khác cũng có thể được đánh giá như vậy, chẳng hạn như tiền bạc, phương pháp thiền định, các quy trình về hội họp và phương pháp giảng dạy. Các phương pháp phi bạo lực có thể được xem là công cụ.

Trước tiên, hãy xem xét nguồn gốc của các phương pháp phi bạo lực. Hầu hết những phương pháp này được phát triển bởi các nhóm hành động hoặc các phong trào xã hội để theo đuổi các mục tiêu cụ thể. Trong khi đó thì chưa ai từng nghe nói tới việc các lực lượng quân đội có nghiên cứu phát triển các phương pháp phi bạo lực.

Tiếp theo là xem xét các tính chất của hành động phi bạo lực. Theo định nghĩa, chúng tránh việc gây ra các thiệt hại về vật lý. Hầu hết trong số đó là có tính mở, có thể được sử dụng bởi rất nhiều người. Phần lớn đều không đòi hỏi phải có các kỹ năng chuyên môn hoặc các nguồn lực đắt đỏ. Hầu hết các phương pháp phi bạo lực có thể phân loại thành công cụ cho mọi người: chúng có thể dễ dàng tiếp cận được rộng rãi và không dễ trở thành độc quyền. Chúng tương đối lành tính. Chúng có thể được dùng để làm gia tăng các chi phí kinh tế và gây đau đớn về tâm lý, nhưng không gây thương vong. Chúng không có tính cạnh tranh: nhiều người có thể sử dụng mà không làm giảm giá trị đối với bất cứ người dùng nào.

Thứ ba, xem xét người sử dụng hành động phi bạo lực. Lướt qua các bài viết về hành động phi bạo lực, những người sử dụng chính là những nhóm người thách thức sự đàn áp, áp bức, bóc lột và những thứ tương tự.

Từ góc nhìn của phi bạo lực có nguyên tắc, hầu như không bao giờ có chuyện những kẻ áp bức lại phải dùng hành động phi bạo lực. Từ góc nhìn của phi bạo lực thực dụng, có vẻ như có một số ít các thí dụ về cảnh sát hoặc quân đội thực hiện hành động phi bạo lực. Vấn đề ở đây có lẽ là sự quan tâm có chọn lọc. Thí dụ, lực lượng Ku Klux Klan (Mỹ) cũng từng tổ chức các buổi mít tinh, diễu hành, mặc dù không phải là trên tinh thần phi bạo lực: những kẻ tham gia giấu kín danh tính của bản thân đối với người bên ngoài. Cũng có thể nói rằng các thành viên của đảng 3K đã có hoạt động tẩy chay các doanh nghiệp của người da đen. Một lần nữa, điều đó không được thực hiện theo tinh thần phi bạo lực, vì hoàn toàn thiếu vắng ý định thúc đẩy đối thoại và đạt được một giải pháp có tính hợp tác về những khác biệt. Các thí dụ như vậy cần được các học giả lưu tâm nhiều hơn để xác định tầm quan trọng của việc sử dụng các phương pháp phi bạo lực theo cách tách biệt khỏi các mục đích thông thường của phi bạo lực.[43]

Kết luận từ bài nghiên cứu tóm tắt này là phi bạo lực là một công cụ chủ yếu là lành tính trong thế giới ngày nay, như có thể thấy thông qua nguồn gốc, tính chất và người dùng chủ yếu của nó. Do đó việc phổ biến hành động phi bạo lực có thể là điều có lợi, mặc dù vẫn có khả năng là các kỹ thuật này có thể bị sử dụng vào các mục đích không mong đợi.

Người ta thường nói rằng công cụ có tác dụng hình thành nên cách mà người sử dụng chúng hiểu về thế giới. Với người cầm búa, mọi thứ trông giống như cây đinh. Với người cầm súng, mọi vật giống như mục tiêu. Với người được đào tạo về kinh tế tân cổ điển, mọi thứ đều giống như thị trường. Với người có kỹ năng về hành động phi bạo lực… thế giới sẽ trông như thế nào? Khó mà khái quát hoá được, nhưng đối với nhiều nhà hoạt động, thế giới trông giống như một nơi mà sự bất công có thể giải quyết được. Sở hữu một hộp công cụ phi bạo lực sẽ rất có thể dẫn đến một quan điểm nhấn mạnh vào yếu tố trao quyền hành, hơn là sự phục tùng hoặc thống trị.

Có một vấn đề phức tạp ở đây: điều gì xảy ra nếu một người có trong tay hai công cụ? Đối với người có một cái búa và một bánh xà phòng, có hai cách nhìn nhận vấn đề. Hãy tưởng tượng một lực lượng quân sự có thể gây chết chóc nhưng cũng có thể tổ chức tụ tập mít tinh, cầu nguyện và biểu tình ngồi. Liệu có nguy cơ gì khi các kỹ thuật phi bạo lực được dùng để phục vụ, yểm trợ hơn các mục đích quân sự? Đây là một nguy cơ khả dĩ do việc phổ biến các kỹ năng phi bạo lực cho tất cả mọi người, kể cả những người có các chương trình nghị sự gây tổn hại. Cho đến nay, nguy cơ này có vẻ rất nhỏ. Hơn nữa, nó được cân bằng bởi khả năng trong đó những người lính đã được đào tạo về kỹ thuật phi bạo lực sẽ quyết định sử dụng chúng cho mục đích riêng, chẳng hạn như từ chối chấp hành mệnh lệnh.

Việc phân tích các cuộc đấu tranh phi bạo lực kinh điển hoặc đương thời – cho dù là cuộc biểu tình Muối năm 1930 ở Ấn Độ do Gandhi lãnh đạo hay phong trào dân chủ hiện nay của Miến Điện – không trực tiếp làm sáng tỏ cho câu hỏi rằng các phương pháp phi bạo lực có phải là những công cụ lành mạnh hay không, bởi hành động phi bạo lực trong những cuộc đấu tranh đó đều được sử dụng cho các mục đích được coi là tốt đẹp. Nếu các phương pháp phi bạo lực là công cụ trung lập, thì sẽ không khó để tìm ra các thí dụ trong đó chúng đã được sử dụng vì các mục đích có hại, chẳng hạn như để khuất phục một nhóm dân cư. Việc thiếu vắng các thí dụ như vậy cho thấy các phương pháp phi bạo lực quả thực là các công cụ không trung lập: chúng dễ được sử dụng vào việc trao quyền và giải phóng hơn nhiều so với mục đích áp bức, thống trị.

Các chỉ trích theo hướng chống chủ nghĩa đế quốc đối với hành động phi bạo lực

Trong những năm gần đây, một số người phản đối chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã phê phán những người Mỹ ủng hộ hành động phi bạo lực. Các đối tượng bị nhắm tới gồm Gene Sharp, học giả về phi bạo lực hàng đầu thế giới; Viện Albert Einstein (AEI) mà Sharp thành lập; Peter Ackerman và Jack DuVall, đồng tác giả của cuốn Một lực lượng hùng mạnh hơn (A Force More Powerful) và các tài liệu liên quan; và Trung tâm Quốc tế về Xung đột phi bạo lực (ICNC) mà Ackerman thành lập và DuVall làm việc cho trung tâm đó.

Theo ý kiến chỉ trích thường thấy đối với chủ nghĩa đế quốc Mỹ, thì chính phủ Mỹ, để xúc tiến cho các lợi ích về kinh tế hoặc về chiến lược của Mỹ, đã thường xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược, chẳng hạn như đối với Cuba năm 1898, Panama năm 1991 và Iraq năm 2003; lên kế hoạch lật đổ các chính phủ, như tại Iran năm 1953, Guatemala năm 1956 và Chile năm 1973, và tài trợ cho các lực lượng dân quân địa phương như Contras ở Nicaragua vào những năm 1980 và mujahidin ở Afghanistan sau năm 1979.[44] Nhưng trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, theo quan điểm của một số nhà phê bình, việc can thiệp trắng trợn đã trở nên khó chấp nhận hơn, gây ra phản đối nhiều hơn, do đó cần phải tiến hành can thiệp một cách tinh vi hơn.[45]

Các phong trào phi bạo lực của dân thường đóng vai trò trung tâm trong sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu vào năm 1989 [46] và trong các cuộc đấu tranh chống độc tài sau đó, như ở Indonesia năm 1998, Serbia năm 2000 và Ukraine năm 2004. Mô hình đấu tranh vũ trang dưới sự lãnh đạo của một đảng phai dường như đã bị thay thế bởi sức mạnh nhân dân.

Hơn nữa, các cơ quan chính phủ Mỹ đang tài trợ một số phong trào dựa trên quyền lực nhân dân. Điều này, đối với một số nhà phê bình, giống như một chỉ dấu chứng tỏ sự mờ ám. Đối với họ, sự tài trợ của chính quyền Mỹ cho thấy rằng phi bạo lực thực chất là một phần của một dự án đế quốc. Những người ủng hộ phi bạo lực nổi tiếng của Mỹ bị coi là khuôn mặt mới của sự áp bức bóc lột, họ bị cáo buộc là các quân cờ của chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

Chẳng hạn, Jonathan Mowat đã viết vào năm 2005 về việc chính phủ Mỹ đã phát triển các phương pháp về cái mà ông gọi là “đảo chính hậu hiện đại” bằng cách sử dụng các phương pháp phi bạo lực, với các kỹ thuật đã được thử nghiệm ở Philippines chống Tổng thống Marcos năm 1986, tại Trung Quốc trong vụ “bất ổn định tại Quảng trường Thiên An Môn” năm 1989 và Tiệp Khắc năm 1989, và gần đây hơn, với các công nghệ truyền thông mới, ở những nơi như Serbia và Ukraine. Mowat chỉ đích danh Ackerman và DuVall như là những nhân vật chủ chốt trong phương thức can thiệp mới của Mỹ, và nhận xét rằng “Việc tạo ra và triển khai các cuộc đảo chính dưới bất kỳ hình thức nào cũng cần có các đặc vụ trên thực địa. Người xử lý chính của các cuộc đảo chính này “trên phương diện đường phố” chính là Viện Albert Einstein”.[47]

Một sự công kích khác đến từ George Ciccariello-Maher, tác giả của cuốn “Khiêu vũ hoá trang dưới biểu ngữ ‘hành động phi bạo lực’. Theo đó, Viện Albert Einstein đã đóng một vai trò trung tâm trong một giai đoạn chiến tranh mới, trong đó kết hợp các tấm gương anh hùng của hình thức phản kháng phi bạo lực trước đây vào với một chiến lược của sự tăm tối và đánh lạc hướng, nhằm phục vụ cho công việc của đế quốc.”[48]

Cũng như các tấn công vào các cá nhân và tổ chức cụ thể thúc đẩy phi bạo lực, một vài tác giả đã tấn công vào chủ đề hành động phi bạo lực một cách chung chung hơn, nổi bật nhất là Ward Churchill – nhà hoạt động và học giả về người Mỹ bản địa, và Peter Gelderloos –  học giả theo chủ nghĩa vô chính phủ [49].

Quan điểm phê phán theo hướng chống chủ nghĩa đế quốc này đối với nguyên tắc phi bạo lực này là một sự quay ngược 1800. Chỉ vài thập niên trước đây, các nhà phản đế quốc, nhất là những người Mác-xít đã bỏ qua hành động phi bạo lực, coi đó là không đáng để bàn, không phù hợp. Còn những người mà có chút mảy may chú ý thì đều có xu hướng coi thường, xem phi bạo lực là không hiệu quả và không tưởng.

Một trong những người có phản hồi lại quan điểm chỉ trích Viện Albert Einstein là Stephen Zunes, giáo sư chính trị học thuộc Đại học San Francisco, nổi tiếng trong số các học giả về phi bạo lực vì các tác phẩm của ông trong lĩnh vực này [50] và được biết đến nhiều hơn như một nhà bình luận chính trị và nhà hoạt động, đặc biệt về Trung Đông.[51] Zunes chỉ ra rằng Sharp là một lý thuyết gia và Viện Albert Einstein là một tổ chức độc lập, được tài trợ ít ỏi, cung cấp đào tạo về tư duy chiến lược trên cơ sở không thiên vị, phi đảng phái. Ông cũng đã phản hồi lại các cáo buộc về sự can thiệp ở Venezuela.[52]

Ở đây, tôi sẽ không theo đuổi các chi tiết của cuộc tranh luận lộn xộn và đôi khi cực kỳ phức tạp này, mà chỉ bình luận về mối liên quan giữa các lập luận của các nhà phê bình đó với những tình thế khó xử nêu ra trong các phần trước đó.

Tình thế khó xử đầu tiên là khả năng hành động phi bạo lực bị sử dụng vào mục đích sai trái. Đó chính là điều mà các nhà phê bình cho rằng đã xảy ra. Tuy nhiên, họ có một phương pháp đánh giá khá phiến diện về các mục đích: họ chống lại bất kỳ phong trào nào trợ giúp cho chương trình nghị sự đế quốc của chính phủ Mỹ khi họ gặp. Những người ủng hộ phi bạo lực có thể đồng ý rằng cần phải đánh giá mức độ xứng đáng của mục tiêu đó, nhưng cần phải tự mình phán xét dựa trên một đánh giá kỹ lưỡng.

Tình thế khó xử thứ hai là liệu hành động phi bạo lực có phải là cách phù hợp nhất để đem lại thay đổi không. Các nhà phê bình đều không trả lời câu hỏi này một cách rõ ràng vì họ chống lại bất kỳ hành động nào – kể cả là bạo lực, phi bạo lực hay chính trị thông thường – chống lại các chính phủ hoặc phong trào mà họ ưa thích. Mặt khác, những người ủng hộ phi bạo lực phải giữ thái độ cảnh giác với khả năng là đôi khi đối thoại hoặc hành động xã hội thông thường có thể là lựa chọn tốt hơn hành động phi bạo lực.

Tình thế thứ ba liên quan đến mối quan hệ giữa bạo lực và phi bạo lực. Các nhà phê bình, khi bàn về vấn đề này một cách công khai, thường rất thoải mái trộn lẫn các phương pháp bạo lực và phi bạo lực.[54] Hầu hết những người ủng hộ phi bạo lực đều biết rằng hành động phi bạo lực thì hiệu quả hơn khi không đi kèm với bạo lực. Họ cũng cần nhận thức rằng hành động phi bạo lực đôi khi cũng có có tác dụng củng cố cho các hệ thống tồn tại dựa trên bạo lực và ngược lại, và phải chú ý giải quyết những điểm phức tạp liên quan.

Tình thế thứ tư liên quan đến việc trợ giúp cho việc sử dụng các phương pháp phi bạo lực. Các nhà phê bình nhận thấy việc trợ giúp, ít nhất là cho các mục tiêu mà họ phản đối, là điều không thể chấp nhận được. Đúng là có một số cạm bẫy, nhưng nói chung không có nhiều rủi ro trong việc thúc đẩy phi bạo lực, do các lợi ích khả dĩ của việc nâng cao sự hiểu biết và khả năng đạt được mục tiêu mà không cần sử dụng bạo lực thì lớn hơn nhiều so với khả năng thiệt hại do trợ giúp nhầm một mục đích sai trái. Chẳng hạn Jørgen Johansen nghĩ rằng việc đào tạo về phi bạo lực cho những người mà ông bất đồng thường có nhiều lợi ích hơn là bất lợi.

Ý tưởng rằng các phương pháp phi bạo lực là công cụ không trung lập – nghĩa là chúng dễ sử dụng hơn nhiều cho các mục đích tốt đẹp hơn là các mục đích có hại – giúp ta hiểu được được sự khác biệt về quan điểm giữa những người chỉ trích và ủng hộ phi bạo lực. Đối với những người chỉ trích theo hướng chống chủ nghĩa đế quốc, bất cứ cái gì tỏ ra là ủng hộ cho các chương trình nghị sự của chủ nghĩa đế quốc đều phải bị chống đối: họ không quan tâm lắm đến chuyện phân biệt giữa các phương pháp, do đó, phi bạo lực cũng đáng bị lên án như bạo lực; yếu tố then chốt đối với họ là mục tiêu gì đang được nâng đỡ. Mặt khác, những người ủng hộ hành động phi bạo lực nói chung tin rằng phi bạo lực là một công cụ phù hợp hơn để xử lý xung đột và thế giới sẽ là một nơi tốt hơn nếu tất cả các xung đột được theo đuổi và giải quyết bằng hành động phi bạo lực hơn là bạo lực.

Có một câu hỏi hóc búa ở trung tâm của luận điểm cho rằng phi bạo lực đã trở thành công cụ của chủ nghĩa đế quốc, đó là: nếu hành động phi bạo lực có hiệu quả đến thế thì sao các nhà phê bình lại không khuyến khích việc sử dụng hành động phi bạo lực một cách rộng rãi hơn nữa bởi những lực lượng mà họ ủng hộ, chẳng hạn như chính phủ Venezuela? Nói cách khác: những người chỉ trích theo hướng chống chủ nghĩa đế quốc trước đây từng khẳng định rằng thứ duy nhất để đối chọi lại bạo lực nhà nước là bạo lực của những người phản kháng (bạo lực cách mạng). Rốt cuộc, đó là lý do tại sao họ ủng hộ đấu tranh vũ trang hoặc, khi các phong trào cánh tả lên nắm quyền lực nhà nước, thì họ ủng hộ việc duy trì một lực lượng quân đội mạnh của nhân dân. Giờ đây nếu họ cho rằng chính phủ Mỹ đang sử dụng phi bạo lực như một công cụ mạnh mẽ, tại sao chính họ không học theo và sử dụng chính công cụ đó và ủng hộ việc đấu tranh bằng phi bạo lực chống đế quốc? Và tại sao họ không thừa nhận vai trò của phi bạo lực trong các cuộc đấu tranh chống đế quốc? [55]

Từ quan điểm phi bạo lực, lập trường của các nhà phê bình phản đế quốc có sai sót nghiêm trọng, trong đó có việc thiếu bằng chứng để chứng minh rằng các phong trào phi bạo lực là quân cờ của chính phủ Mỹ hay bất kỳ một giải thích nào về lý do tại sao hàng triệu người lại liều mạng để đấu tranh cho quyền lực của ngoại bang [56]. Tuy nhiên, cuộc tranh cãi này có thể giúp nêu bật được một số tình thế thách thức khó xử trong việc sử dụng và thúc đẩy hành động phi bạo lực, mặc dù đồng thời nó cũng có thể kéo sự chú ý cần thiết ra khỏi những thách thức ở mức độ tinh vi hơn mà những người ủng hộ phi bạo lực phải đối mặt.[57]

Kết luận

Khi mà phi bạo lực được người ta hiểu và sử dụng rộng rãi hơn, thì các tình thế khó xử sẽ rất có thể sẽ trở nên nổi bật hơn. Sẽ có thêm nhiều vấn đề mà trong đó cả hai bên đều áp dụng hành động phi bạo lực, và khi xảy ra những lạm dụng, thì chúng ta dễ bị cám dỗ là đổ trách nhiệm cho chính nguyên tắc và hành động phi bạo lực. Những tình thế này phải được coi là dấu hiệu cho thấy phi bạo lực đang trở thành xu hướng chủ đạo. Đó có thể là cơ hội cho một giai đoạn tiếp theo trong quá trình tiến hoá của phi bạo lực.

Tác giả: Brian Martin là giáo sư danh dự tại Đại học Wollongong, Úc. Ông là tác giả của 17 cuốn sách và hàng trăm bài viết về đấu tranh phi bạo lực, các cuộc tranh luận khoa học, các vấn đề thông tin, dân chủ và các chủ đề khác. Ông là phó chủ tịch của Whistleblowers Australia và điều hành một website lớn về việc đàn áp bất đồng chính kiến.

Nguồn bài dịchDilemmas in promoting nonviolence

Nguồn ảnh bìa: https://www.nytimes.com

Đọc thêm tại:

Những tình thế khó xử trong việc thúc đẩy nguyên tắc Phi bạo lực – (P2)

Những tình thế khó xử trong việc thúc đẩy nguyên tắc Phi bạo lực – (P1)

Ghi chú và Tham khảo

  1. Xem thí dụ Donald MacKenzie và Judy Wajcman, eds., The Social Shaping of Technology: How the Refrigerator Got its Hum (Sự hình thành xã hội của công nghệ: Cách cho tủ lạnh chạy êm) (Milton Keynes: Open University Press, 1985).
  2. Langdon Winner, Autonomous Technology: Technics-out-of-Control as a Theme in Political Thought (Công nghệ tự trị: Technics-out-of-Control như là một chủ đề về tư duy chính trị) (Cambridge, MA: MIT Press, 1977); Merritt Roe Smith và Leo Marx, eds., Does Technology Drive History? The Dilemma of Technological Determinism (Công nghệ điều hướng Lịch sử? Tình thế khó xử của Quyết định luận công nghệ) (Cambridge, MA: MIT Press, 1994).
  3. David Elliott và Ruth Elliott, The Control of Technology (Kiểm soát công nghệ) (London: Wykeham, 1976); Ivan Illich,Tools for Conviviality (Công cụ Vui chơi) (London: Calder and Boyars, 1973); Richard E. Sclove, Democracy and Technology (Dân chủ và Công nghệ) (New York: Guilford Press, 1995); Langdon Winner, The Whale and the Reactor: A Search for Limits in an Age of High Technology (Cá voi và lò hạt nhân: Tìm kiếm giới hạn trong thời đại công nghệ cao) (Chicago: University of Chicago Press, 1986).
  4. Janet Abbate, Inventing the Internet (Phát minh Internet) (Cambridge, MA: MIT Press, 1999).
  5. Arthur I. Waskow, From Race Riot to Sit-in, 1919 and the 1960s: A Study in the Connections between Conflict and Violence (Từ Cuộc nổi dậy sắc tộc đến Biểu tình ngồi, 1919 và những năm 1960: Nghiên cứu về các mối liên hệ giữa xung đột và bạo lực) (Garden City, NY: Doubleday, 1966), 279-280, những thí dụ về điều mà ông gọi là “Rối loạn sáng tạo” – gần với hành động phi bạo lực thực tế – bởi segregationists, chẳng hạn như trục xuất người da đen thuê nhà cố đăng ký bầu cử, cắt giảm tín dụng và từ chối bán dụng cụ. Waskow cho rằng những người phân biệt chủng tộc đã dùng các cách này vì họ tự cảm thấy mình như là người ngoài cuộc. Lý luận chung của ông là rối loạn sáng tạo khởi đầu như một thách thức đối với hệ thống và sau này trở thành tiêu chuẩn và được chấp nhận là tự do.
  6. William Blum, Killing Hope: US Military and CIA Interventions since World War II (Các can thiệp quân sự của Mỹ và CIA kể từ Chiến tranh Thế giới II) (London: Zed, 2003). Tôi xin cảm ơn Jørgen Johansen vì đề xuất tham khảo này.
  7. William I. Robinson, Promoting Polyarchy:Globalization, US Intervention, and Hegemony (Thúc đẩy đa thức: Toàn cầu hoá, sự can thiệp của Mỹ và quyền bá chủ) (Cambridge: Cambridge University Press, 1996).
  8. Michael Randle,  People Power: The Building of a New European Home (Sức mạnh nhân dân: Xây một ngôi nhà Châu Âu mới) (Stroud: Hawthorn, 1991); Adam Roberts, Civil Resistance in the East European and Soviet Revolutions (Kháng cự dân sự trong các cuộc cách mạng Đông Âu và Liên Xô) (Cambridge, MA: Albert Einstein Institution, 1991).
  9. Jonathan Mowat, “The New Gladio in Action? Ukrainian Postmodern Coup Completes Testing of New Template” (Tân Gladio đang hoạt động? Vụ đảo chính Ukraina hậu hiện đại hoàn thành thử nghiệm mẫu mới) Online Journal, 19 March 2005, http://onlinejournal.org/Special Reports/031905Mowat-1/031905mowat-1.html.
  10. George Ciccariello-Maher, “AEI and Venezuela: Einstein Turns in his Grave” (AEI và Venezuela: Einstein ngủ trong ngôi mộ của mình)Counterpunch, 16 April 2008, http://www.counterpunch.org/maher04162008.html. Cũng xem Michael Barker, “A Force More Powerful: Promoting ‘Democracy’ through Civil Disobedience,” (Một lực lượng hùng hậu hơn: Thúc đẩy ‘Dân chủ’ qua bất tuân dân sự)State of Nature, Winter 2007, http://www.stateofnature.org/forceMorePowerful.html;Eva Golinger, “USAID in Bolivia and Venezuela: The Silent Subversion (USAID ở Bolivia và Venezuela: Vụ lật đổ âm thầm)venezuelanalysis.com: Venezuela News, View, and Analysis, 12 September 2007, http://www.venezuelanalysis.com/analysis/2600/.
  11. Ward Churchill, Pacifism as Pathology: Reflections on the Role of Armed Struggle in North America(Chủ nghĩa hòa bình như Bệnh lý học: Những phản ánh về vai trò của đấu tranh vũ trang ở Bắc Mỹ)(Edinburgh: AK Press, 2007); Peter Gelderloos, How Nonviolence Protects the State (Phi bạo lực bảo vệ nhà nước như thế nào)(Cambridge, MA: South End Press, 2007). Để phản hồi cho Gelderloos đầy đủ, xem Brian Martin, “How Nonviolence is Misrepresented,” (Cách để phi bạo lực không diễn giải sai) Gandhi Marg 30, 2 (July-September 2008): 235-257.
  12. Zunes,”Unarmed Insurrections against Authoritarian Governments in the Third World”; Zunes, “The Role of Non-violent Action in the Downfall of Apartheid”; Stephen Zunes, Lester R. Kurtz, và Sarah Beth Asher, eds., Nonviolent Social Movements: A Geographical Perspective (Phong trào xã hội phi bạo lực: góc nhìn địa lý) (Oxford: Blackwell, 1999).
  13. Stephen Zunes, Tinderbox: U.S. Foreign Policy and the Roots of Terrorism (Chính sách đối ngoại của Mỹ và cội nguồn chủ nghĩa khủng bố) (Monroe, ME: Common Courage Press, 2003).
  14. Stephen Zunes, “Sharp attack unwarranted” (Cuộc tấn công bất ngờ không chính đáng) Foreign Policy in Focus, http://www.fpif.org/fpiftxt/5327/, 27 June 2008; Cũng xem Stephen Zunes, “Nonviolent action and pro-democracy struggles,” (Phi bạo lực và các cuộc đấu tranh cho dân chủ) Foreign Policy in Focus, http://www.fpif.org/fpiftxt/4923/, 24 January 2008
  15. George Ciccariello-Maher và Eva Golinger, “Making Excuses for Empire: Reply to Defenders of the AEI,” (Ngỏ lời xin lỗi đế chế: Trả lời Người bảo vệ AEI), Venezuelanalysis.com, 4 August 2008, http://www.venezuelanalysis.com/print/3690/; Michael Barker, “Sharp Reflection Warranted: Nonviolence in the Service of Imperialism.” (Phản ánh sắc nét không xác đáng: Phi bạo lực trong công sở của chủ nghĩa đế quốc) Swans Commentary, 30 June 2008, http://www.swans.com/library/art14/barker01.html.
  16. Một luận điểm chính của Peter Gelderloos trong Phi bạo lực bảo vệ nhà nước là các nhà hoạt động có thể có hiệu quả hơn nếu không tự hạn chế vào nguyên tắc phi bạo lực.
  17. Jack DuVall viết rằng đã có nhiều cuộc đấu tranh phi bạo lực trong quá khứ và tích cực chống lại các chính phủ được chính phủ Mỹ hậu thuẫn hoặc tài trợ. Các nhà lãnh đạo và nhà hoạt động trong các cuộc vận động phi bạo lực hiện nay ở Tây Sahara, Tây Papua, Ai Cập và Palestine chống lại những kẻ chiếm đóng hoặc các chế độ ở những nước đã tiếp thu và áp dụng những gì họ đã học được về hành động phi bạo lực chiến lược (và chúng tôi đã giúp dạy cho một số nhà hoạt động đó). Các nhà phê bình trợ giúp cho các nhà hoạt động người Venezuela, Tây Tạng, Myanmar hoặc Iran đã im lặng trước sự giúp đỡ cho các cuộc vận động khác (như Ai Cập, Palestine) có thể là vì những người Mỹ đang giúp đỡ các nhà hoạt động trong các cuộc đấu tranh như vậy không phù hợp với hình mẫu của họ mà việc dạy hành động phi bạo lực là một dạng can thiệp của đế quốc phương Tây (personal communication, 4/12/2008). Xem thêm International Center on Nonviolent Conflict, “Refutation of Stephen Gowans’ article ‘The US attempted color revolution in Iran: the role and aims of US democracy promotion in the attempted color revolution in Iran,” (Phản biện bài viết của Stephen Gowans ‘Mỹ đã thử cách mạng màu ở Iran: vai trò và mục đích của việc thúc đẩy dân chủ Mỹ trong cuộc thử cách mạng màu ở Iran) 7 July 2009, http://www.nonviolent-conflict.org/gowans article.shtml.
  18. Tôi cảm ơn Hardy Merriman, International Center on Nonviolent Conflict – vì những điểm này. Ông nói rằng “gánh nặng bằng chứng phải là dựa trên các khẳng định rằng các phong trào phi bạo lực gần đây là mặt trận của các cường quốc phương Tây. Họ không bao giờ cung cấp bằng chứng như vậy” (personal communication, 6/12/2008).
  19. Học giả về phi bạo lực Ralph Summy (personal communication, 2/12/2008) rằng sẽ khôn ngoan hơn nếu bỏ qua những chỉ trích thiếu thông tin và vô căn cứ, thay vào đó tập trung vào việc thúc đẩy phi bạo lực.

 

Comments

comments