Phản kháng dân sự là gì?

Nguồn ảnh: https://www.eventfinda.co.nz

Phản kháng dân sự là một phương thức mạnh mẽ của người dân để đấu tranh giành các quyền, tự do, công lý và tự quyết – mà không dùng tới bạo lực.

Khi một phong trào chính trị, một cộng đồng hoặc một nhóm thực hành phản kháng dân sự, họ sẽ đồng loạt rút bỏ sự hợp tác đối với một hệ thống áp bức bất công, bằng các chiến thuật như đình công, tẩy chay, biểu tình quy mô lớn, cùng nhiều hình thức bất hợp tác khác. Khi có thật đông người tham gia vào các hành động này theo một cách thức thống nhất, có tổ chức và kỷ luật, họ sẽ làm rối loạn khả năng kiểm soát tình hình của những người nắm quyền. Khi một phong trào thực hiện các chiến thuật theo đúng trình tự để leo thang sức ép lên đối thủ, trong khi vẫn bảo toàn lực lượng và tránh hoặc trụ được trước sự đàn, áp, thì nó có thể bắt chính quyền phải lựa chọn trả những cái giá đắt và buộc phải thay đổi, bằng cách làm suy yếu sự ủng hộ mà chính quyền cần dựa vào để tồn tại, khiến lòng trung thành của những người bảo vệ chế độ bị chuyển hướng và làm những người trước đây chưa bày tỏ thái độ thì nay đứng hẳn về phía phong trào.

Nhiều chiến dịch và phong trào phản kháng dân sự đã tạo nên được những sự biến chuyển về tương quan lực lượng như thế và nhờ đó, làm thay đổi lịch sử. Ngay cả những đối thủ ưa sử dụng bạo lực cũng không thể tránh khỏi ảnh hưởng từ những thách thức mang tính phi bạo lực.

PHẢN KHÁNG DÂN SỰ ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG Ở NHỮNG ĐÂU?

Phản kháng dân sự đã được sử dụng ở rất nhiều xã hội và nền văn khóa khác nhau trên thế giới, và với những mục đích đa dạng suốt chiều dài lịch sử, bao gồm:

  • Bắt chính phủ, các tập đoàn kinh tế và các tác nhân khác không phải là nhà nước…phải chịu trách nhiệm
  • Đòi quyền cho phụ nữ, người thiểu số, người bản địa, quyền của người lao động và các quyền tự do dân chủ.
  • Các chiến dịch chống tham nhũng và đòi minh bạch.
  • Các cuộc đấu tranh đòi quyền tự quyết.
  • Chống lại sự chiếm đóng của nước ngoài
  • Các chiến dịch vì sự an toàn của cộng đồng và giảm thiểu tình trạng bạo lực gây chết người ở các vùng có xung đột
  • Bảo vệ và phát triển tính bền vững của môi trường sinh thái
  • Cải cách đất đai, v.v.

Các ví dụ minh họa có thể kể đến như:

  • Người Anh đã từ bỏ ách thống trị của mình ở Ấn Độ sau một cuộc đấu tranh phi bạo lực kéo dài hàng thập kỷ của người dân Ấn Độ, dưới sự lãnh đạo của Mohandas Gandhi.
  • Người Đan Mạch, Na Uy và các dân tộc khác ở Châu Âu đã dùng phản kháng dân sự để chống lại cuộc xâm lăng của Đức Quốc Xã trong Thế Chiến 2, làm tăng cái giá mà nước Đức phải trả cho việc chiếm đóng các quốc gia này, tăng cường tinh thần và sự gắn kết của người dân, đồng thời cứu mạng sống cho hàng ngàn người Do Thái ở khắp các thành phố, từ Berlin tới Copenhagen hay Pari.
  • Các phong trào lao động trên toàn thế giới đã sử dụng bền bỉ các chiến thuật phản kháng dân sự để giới chủ cũng như các chính quyền phải nhượng bộ về các quyền lợi cho công nhân suốt từ đầu thế kỷ 20 tới nay.
  • Người Mỹ gốc Phi đã dùng phản kháng dân sự trong cuộc đấu tranh nhằm giải thế chế độ chia cách chủng tộc tại Mỹ vào thập niên 1950 và 1960.
  • Giới công nhân Ba Lan sử dụng hình thức đình công chiếm đóng nhà máy vào năm 1980 để giành quyền thành lập công đoàn tự do – đây là một thắng lợi quan trọng dưới thời cộng sản, khi mà hàng vạn quân Liên Xô vẫn đồn trú ở đó.
  • Các nhà độc tài như Ferdinand Marcos ở Philippines và Augusto Pinochet ở Chile bị hạ bệ bởi các phong trào phi bạo lực hồi thập niên 1980.
  • Phong trào chống chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid tại Nam Phi đã sử dụng hình thức tẩy chay và các biện pháp trừng phạt phi bạo lực khác suốt hàng chục năm. Đến thập niên 1980, các phương pháp phi bạo lực đã thắng thế trước phương pháp bạo lực để trở thành động lực chính làm suy yếu chính quyền, buộc nó phải đàm phán về một sự chuyển tiếp chính trị.
  • Năm 1989, hàng ngàn người Trung Quốc đã xuống đường đòi dân chủ và chiếm khu quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh – tuy nhiên phong trào đã bị dìm trong bể máu, khi mà các lãnh đạo theo đường lối cứng rắn trong chế độ đã nắm quyền kiểm soát và ra lệnh đàn áp bằng bạo lực.
  • Năm 1989-1990, người dân Đông Âu và Mông Cổ sử dụng các cuộc biểu tình dân sự để gây áp lực buộc các chế độ cộng sản ở đây từ bỏ độc quyền cai trị. Sau một cuộc khởi nghĩa vũ trang thất bại hồi gần cuối thập niên 1970, người dân Đông Timor chuyển sang các phương pháp phi bạo lực để chống lại sự thống trị của Indonesia trên đất nước mình. Bất chấp sự đàn áp khốc liệt của quân đội Indonesia, cũng như truyền thông hoàn toàn bị cắt đứt với bên ngoài, cuộc đấu tranh của người dân Đông Timor vẫn tìm kiếm được đồng minh ở bên trong Indonesia, giúp phơi bày mọi việc ra trước công luận quốc tế và gây áp lực, làm cho Indonesia ngày càng phải trả giá đắt cho sự chiếm đóng và thống trị của mình. Kết quả cuối cùng là cuộc trưng cầu dân ý được tiến hành năm 1999 và Đông Timor tuyên bố độc lập.
  • Năm 2000, người dân Séc-bi hạ bệ được nhà độc tài Slobodan Milosevic, sau khi phong trào phản kháng phi bạo lực đã thành công trong việc tác động để khiến cho công an và quân đội từ bỏ sự trung thành của họ đối với chế độ, và chia rẽ nội bộ của Milosevic.
  • Năm 2002, các công dân ở Madagascar biểu tình phi bạo lực để yêu cầu tôn trọng kết quả bầu cử tổng thống.
  • Năm 2003, người dân Gruzia dùng hành động phi bạo lực để phơi bày sự gian trá và yêu cầu tôn trọng kết quả bầu cử, và đến năm 2004, làn sóng này lan sang Ukraina.
  • Năm 2005, các cuộc biểu tình rộng khắp ở Li-băng đã đặt dấu chấm hết cho sự thao túng của Syria đối với chính trị nội bộ của quốc gia này.
  • Năm 2006, người dân Nepal dùng các phương pháp phi bạo lực để khôi phục nền dân chủ.
  • Cuộc nổi dậy ở Miến Điện năm 2007, được biết đến với tên gọi “Cuộc cách mạng Áo Cà Sa”, được khởi động bởi các tu sĩ Phật Giáo và thu hút sự tham gia của học sinh sinh viên, phụ nữ và các nhà hoạt động chính trị. Cuộc nổi dậy này bị đàn áp dã man. Tuy nhiên, 3 năm sau, chính quyền quân sự bắt đầu thực hiện lộ trình chuyển tiếp dân chủ vô tiền khoáng hậu và nhờ đó, phe đối lập lên nắm quyền thông qua một cuộc bầu cử dân chủ. Vai trò của cuộc Cách mạng Áo Cà Sa trong việc làm xúc tác cho tiến trình chuyển tiếp chính trị này vẫn là đề tài cho các cuộc thảo luận.
  • Phong trào của các luật sư người Pakistan từ 2007 đến 2009, nổi lên để phản ứng trước quyết định của tổng thống Pervez Musharraf sa thải vị chánh thẩm tòa án tối cao Pakistan. Cuộc phản kháng dân sự kéo dài năm nhằm thúc đẩy nền tư pháp độc lập đã buộc Musharraf phải phục hồi lại chức vụ của vị chánh thẩm này và dẫn tới việc Musharraf bị loại khỏi vị trí quyền lực vào năm 2008.
  • Người dân Palestine ở khu Bờ Tây vẫn tiếp tục phản kháng phi bạo lực chống lại việc Israel cho xây dựng bức tường ngăn cách người Palestine khỏi lãnh thổ của họ. Một số làng mạc, như Bil’in và Budrus đã trở thành những biểu tượng được thế giới nhìn nhận cho cuộc đấu tranh chống lại sự chiếm đóng của Israel.
  • Phong trào Xanh của Iran năm 2009 đã làm rung chuyển những nền móng cai trị của chế độ, vốn đã tồn tại suốt hơn 30 năm. Phong trào này đã không duy trì được khả năng huy động lực lượng trước sự đàn áp thô bạo. Tuy nhiên, cuộc bầu cử tổng thống kế tiếp, diễn ra năm 2013, đã diễn ra một cách công bằng, và một ứng viên ôn hòa đã giành chiến thắng.
  • Cuối năm 2010 và sang 2011, phong trào Mùa Xuân Ả Rập diễn ra, tràn từ Tunisia sang Ai Cập, Yemen và các nước khác trong khu vực. Những người dân tay không tấc sắt đã hạ bệ được những nhà độc tài đầy mà quyền lực của họ tưởng như không thể suy chuyển, tuy nhiên quá trình củng cố dân chủ sau giai đoạn chuyển tiếp hiện vẫn còn rất gian nan. Ở một số quốc gia, như Syria, các phong trào phi bạo lực đã bị thế chỗ bởi đấu tranh vũ trang với những hậu quả bi thương cho dân chúng.

Trong những năm gần đây, có những phong trào phi bạo lực chống tham nhũng diễn ra tại những quốc gia như Ukraina, Guatemala, Moldova, Brazil và Campuchia các cuộc đấu tranh chống độc tài tại Burkina Faso, Belarus, Nga và Zimbabwe, phản kháng phi bạo lực chống ách chiếm đóng tại Palestine, đòi quyền tự quyết tại Tây Papua, Tây Sahara và Tây Tạng, ủng hộ quyền của người nhập cư, người thiểu số, chống lại sự tàn bạo của cảnh sát và chống biến đổi khí hậu tại Mỹ, ủng hộ quyền của người bản địa tại Mỹ Latinh, chống lại tình trạng bạo lực và cuộc chiến chống ma túy tại Mê-hi-cô, vận động cho quyền của nữ giới tại Ấn Độ, Trung Đông, Trung Quốc và Bắc Phi.

THÀNH TÍCH CỦA CÁC CUỘC PHẢN KHÁNG DÂN SỰ

Không phải mọi phong trào và chiến dịch phản kháng dân sự đều thành công, nhưng tỉ lệ thành công của chúng cao hơn nhiều so với mức mà mọi người thường quan niệm. Xác suất thành công của chúng ra sao so với các phương pháp đấu tranh khác?

Không có phép đo chuẩn mực nào đối với tỉ lệ thành công của phản kháng dân sự mà bao quát được tất cả các hoàn cảnh xã hội và mục tiêu đấu tranh. Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu được giải thưởng mới đây đã so sánh thành tích của các phong trào phản kháng dân sự và các cuộc khởi nghĩa vũ trang nhằm chống lại chính quyền và hướng tới việc đạt được những mục tiêu lớn lao như thay đổi chế độ, ly khai hoặc đánh đuổi ngoại bang. Kết quả thể hiện rất rõ:

Tỉ lệ thành công của các chiến dịch đấu tranh phi bạo lực và bạo lực trong thời kỳ 1900 – 2006 (Nguồn: Tại sao phản kháng dân sự lại có hiệu quả: Tính logic chiến lược của xung đột phi bạo lực (tác giả: Erica Chenoweth và Maria Stephan), 2011.)

Ngoài ra, các cuộc đấu tranh phi bạo lực thành công (và có lúc ngay cả các phong trào không thành công) thường mang lại kết quả là những chế độ dân chủ hơn nhiều so với các cuộc khởi nghĩa vũ trang.

Xác suất một quốc gia sẽ có dân chủ sau 5 năm kể từ khi một chiến dịch đấu tranh kết thúc (Nguồn: Tại sao phản kháng dân sự lại có hiệu quả: Tính logic chiến lược của xung đột phi bạo lực (tác giả: Erica Chenoweth và Maria Stephan), 2011.)

NHÂN TỐ NÀO GIÚP CÁC PHONG TRÀO PHẢN KHÁNG DÂN SỰ

Trong lịch sử và cả cho tới ngày nay, các phân tích về phản kháng dân sự thường mặc định rằng những phong trào này chỉ có thể trỗi dậy và thành công trong một số điều kiện thuận lợi nhất định mang tính cơ cấu. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh giả định này là sai. Nhiều phong trào gây bất ngờ cho những người quan sát và khởi lên từ những cộng đồng dân cư bị gạt ra ngoài lề, trong đó tình trạng thiếu sức mạnh kinh tế, thiếu một lịch sử chung, hoặc khả năng tiếp cận với giáo dục và các dịch vụ khác khiến người ta mặc định một cách sai lầm rằng những nhóm dân cư này không thể nào thực hiện phản kháng một cách hiệu quả. Đồng thời, có nhiều phong trào phản kháng dân sự đã nổi lên và thành công trong điều kiện bị đàn áp cao độ, và người ta cũng mặc đinh rằng bạo lực của chế độ nhắm vào các nhà hoạt động cũng như dân thường sẽ ngăn chặn khả năng phản kháng thành công bằng phi bạo lực.

Các dữ liệu định lượng hiện có cần phải được mở rộng hơn nữa, nhưng các nghiên cứu đã được thực hiện cho thấy rằng ngay cả những điều kiện cực kỳ trở ngại cũng không thể ngăn chặn được một cách tất yếu khả năng phản kháng dân sự thành công. Khi đối mặt với những điều kiện như thế, thì kỹ năng và các lựa chọn chiến lược của phong trào là rất quan trọng, và các phong trào thành công được là nhờ biết áp dụng những kỹ năng và lựa chọn chiến lược ấy để tạo ra và tận dụng được cơ hội mà tình thế đem lại; khắc phục và chuyển hóa những điều kiện bất lợi về kinh tế-xã hội.

Bằng cách nghiên cứu và chia sẻ thông tin và các nguồn đào tạo về cách thức mà các phong trào phản kháng vận hành trên khắp thế giới, cho những mục tiêu đa dạng, về cả kỹ năng và các lựa chọn chiến lược của những người tranh đấu, chúng ta có thể giúp cho nhiều phong trào khác trong hiện tại và tương lai đạt hiệu quả cao hơn trong việc đòi các quyền và lợi ích của mình.

Nguồn bài dịch: What is civil resistance?

Nguồn ảnh bìa: https://www.eventfinda.co.nz

Comments

comments