Phi bạo Lực: Thành công & Thất bại

Chính sách phi bạo lực liệu có khả thi hay không?

Tác giả:Yoav Tenembaum – Giảng viên Chương trình Nghiên cứu Ngoại giao, Khoa Khoa học Chính trị tại Đại học Tel Aviv ở Israel. Ông có bằng tiến sĩ về Lịch sử Hiện đại từ Đại học Oxford, bằng Thạc sỹ Quan hệ Quốc tế từ Đại học Cambridge và bằng Cử nhân Lịch sử từ Đại học Tel Aviv. Bài viết dưới đây thể hiện quan điểm của ông về hiệu quả của phương pháp phi bạo lực ở cấp độ quốc gia và quốc tế.

Phi bạo lực là chính sách dựa trên định đề đạo đức cho rằng việc sử dụng vũ lực, từ trong bản chất, là điều đáng ghê tởm. Ngoài ra nó cũng liên quan đến những mục tiêu chính trị cụ thể. Câu hỏi đặt ra trong bài viết này đề cập trước tiên đến tính khả thi của chính sách phi bạo lực, hơn là những khía cạnh đạo đức tuyệt đối của nó; nhưng đương nhiên, 3 ví dụ tiêu biểu nhất về đấu tranh phi bạo lực trong lịch sử hiện đại đều đã được thúc đẩy bởi những niềm tin đạo đức. Ba ví dụ này gồm phong trào bất bạo động của Martin Luther King, Jr., Mahatma Gandhi và các phong trào đấu tranh vì hòa bình thế kỉ 20.

Chính sách của Martin Luther King (MLK) là ví dụ tiêu biểu nhất về chính sách phi bạo lực trong tình thế mà một tầng lớp nhân dân sống trong một quốc gia có chủ quyền chống đối một cách sâu sắc với chính sách công khai của nhà nước đó hoặc đối với các điều kiện xã hội được dung dưỡng bên trong. King và những người ủng hộ ông tin rằng tình trạng bất công trắng trợn đối với người da đen tại các bang miền Nam của Hoa Kỳ cần phải bị thách thức bằng một loạt hành động phi bạo lực. Ngược lại, Mahatma Gandhi đã sử dụng đấu tranh phi bạo lực trong bối cảnh xã hội thời thuộc địa, nghĩa là có sự chiếm đóng của nước ngoài. Gandhi và những người ủng hộ ông đã tìm cách phản đối các chính sách cai trị của người Anh ở Ấn độ. Trong một bối cảnh khác nữa, phong trào xã hội vì hòa bình ở thế kỉ 20 diễn ra khi có nhiều xung đột quốc tế. Họ đã chống lại việc sử dụng bạo lực để giải quyết xung đột giữa các quốc gia bằng lập luận rằng chiến trang là một lựa chọn không thể biện hộ được về đạo đức trong quan hệ quốc tế.

Martin Luther King, Jr. và Mahatma Gandhi đã thành công, trong khi những phong trào hoà bình thì thất bại. Câu hỏi đặt ra là tại sao?

Thứ nhất, Martin Luther King, Gandhi và những người ủng hộ họ đã có những mục tiêu được xác định rõ ràng và giới hạn. Trong khi đó, những người ủng hộ hoà bình lại nhằm thách thức một tập hợp các lợi ích rộng lớn, quyền lực hơn nhiều và cố gắng đạt được mục tiêu cao vời là hòa bình tuyệt đối trên toàn cầu.

Một yếu tố quan trọng trong thành công của các chiến dịch do Martin Luther King và Gandhi lãnh đạo là bản chất của các hệ thống chính trị của Mỹ và Anh: cả hai đều là các nền dân chủ. Một đường lối bất bạo động có cơ hội thành công lớn hơn khi hoạt động chống lại các chế độ dân chủ hơn là các chế độ độc tài.

Quả thực, cả 2 phong trào trên đều khó đạt được kết quả thành công như đã có nếu chúng diễn ra ở các chế độ Đức Quốc Xã hoặc Liên Xô thời Stalin. Cũng từng có những người sử dụng phương pháp phi bạo lực ở Liên Xô thời hậu Stalin và đã bảo toàn được tính mạng, có điều là họ đã không khuất phục được chế độ. Tất nhiên, những nhà bất đồng chính kiến đã áp dụng biện pháp đấu tranh phi bạo lực trong cuộc đấu tranh chống chế độ Cộng Sản đã có vai trò gián tiếp trong việc tạo ra thay đổi ở đó, bằng cách vận động dư luận quốc tế và trở thành tiêu điểm chú ý của các nhóm nhân quyền quốc tế.

Tuy nhiên, những tác động này không mang tính cấu trúc, mà chỉ có tính chiến thuật: chúng đã không thay đổi được cấu trúc của chính xã hội Xô Viết. Thật vậy, đóng góp to lớn nhất của các nhà bất đồng chính kiến này ​​là khai sáng cho dư luận bên ngoài Liên Xô về thực tế đang diễn ra trong nước. Khi đó, điều hiển nhiên là, đấu tranh phi bạo lực có thể nâng cao nhận thức của dư luận quốc tế, đặc biệt là ở các nước dân chủ, và do đó giúp ích cho các công cuộc đấu tranh có liên quan. Một ví dụ đương thời rõ nét về mặt này là chiến dịch của Đức Dalai Lama về vấn đề Tây Tạng. Chiến dịch bất bạo động của ông đã có ảnh hưởng rất khiêm tốn ở Trung Quốc – tác động chính của nó là ở nước ngoài. Thông qua việc khuấy động dư luận quốc tế, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trở thành biểu tượng cho công cuộc giải phóng Tây Tạng, và nhờ vậy, duy trì sức sống cho công cuộc đấu tranh của ông. 

Về mặt hình thức, các cuộc biểu tình bất bạo động đã thành công trong việc tạo ra sự thay đổi chế độ ở Đông Âu sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Tuy nhiên, chúng ta phải thận trọng để không nhầm lẫn các biểu hiện của một sự thay đổi vốn đã đang diễn ra, và nguyên nhân của sự thay đổi đó, hoặc các lực lượng đã tạo ra/cho phép sự thay đổi đó diễn ra. Tức là, các chế độ Cộng sản Đông Âu sụp đổ vì quyết định của Michael Gorbachev không tiếp tục duy trì chúng bằng vũ lực nữa. Một khi mối đe dọa từ sự can thiệp của Liên Xô đã biến mất khỏi cán cân chính trị ở Đông Âu, thì các chế độ Cộng sản trong khu vực không có cơ hội sống sót. Do đó, bất bạo động đúng là đã thành công ở đây, nhưng chủ yếu là sự phi bạo lực của Liên Xô, tạo ra điều kiện cho phép chủ nghĩa cộng sản sụp đổ trong hòa bình ở Đông Âu. Dĩ nhiên, Liên Xô không hoan nghênh sự sụp đổ của Chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Âu; nó chỉ đơn giản là không hành động để ngăn chặn chuyện đó. Do vậy, có một nguyên tắc là các chiến dịch bất bạo động có cơ hội thành công nếu nó đương đầu với một đối thủ yếu ớt vốn duy trì quyền lực bằng cách dựa vào một tác nhân bên ngoài và tác nhân này không còn muốn duy trì nó này nữa.

Sức mạnh của chiến dịch bất bạo động do Martin Luther King, Jr. lãnh đạo đã được củng cố bởi chính thông điệp tích cực của ông, trong đó không hề có bóng dáng của sự trả thù. Triết lý phi bạo lực mà Gandhi chủ trương được ủng hộ nhiệt thành từ chính dư luận Anh, vốn chống lại sự áp bức chính trị bằng bạo lực. Người Anh vẫn luôn tự hào rằng hầu hết các cải cách chính trị trong thời hiện đại ở Anh đã diễn ra một cách tiệm tiến và phi bạo lực. Điều này đối lập hẳn với Châu Âu lục đại, nơi mà các thay đổi chính trị diễn ra bởi rất nhiều các cuộc cách mạng bạo lực hoặc nội chiến. Và chắc chắn rằng người Anh đã mệt mỏi sau thế chiến II, không đủ nguồn lực để cai quản đế chế rộng lớn và đáp ứng quá nhiều cáccam kết quốc tế của nó. Quyết định rút khỏi Ấn Độ, do đó, có phần quan trọng là dựa trên những tính toán về kinh tế và chính trị, ngoài việc là kết quả của cuộc đấu tranh phi bạo lực của Gandhi.

Đấu tranh phi bạo lực sẽ là bất khả thi nếu phải đối mặt với một lực lượng sẵn sàng sát hại người đấu tranh theo phương pháp đó. Vì thế chính sách chủ động không bạo lực của người Do Thái trong thời kì Holocaust sẽ là vô nghĩa. Nếu Mahatma Gandhi hay Martin Luther King là người Do Thái thì kết cục của họ cũng sẽ là ở các lò hơi ngạt như đối với nhiều người Do Thái phi bạo lực khác đã trải qua. Tương tự, phi bạo lực trong bối cảnh quan hệ liên quốc gia cũng là vô ích nếu nó phải đối mặt với một lực lượng kiên quyết tiêu diệt đối phương. Phương pháp phi bạo lực trong bối cảnh giữa các quốc gia chỉ có thể có hiệu quả nếu có đủ người ở cả hai phía để tạo ra sức ép đủ lớn để ngăn cản sự bùng phát của bạo lực từ một trong 2 phía. Đường lối phi bạo lực – với tư cách là một chính sách khả thi, dựa trên một nền tảng đạo đức vững mạnh – bắt buộc phải đối chiếu những giả định của nó với những kết quả mà nó có thể đạt được.

Nguồn bài viết:The Success & Failure of Non-Violence

Nguồn ảnh bìa: https://itsgoingdown.org

Comments

comments