Phong trào bình đẳng về hôn nhân – sự đóng góp phi thường từ những con người bình thường

Người dân ăn mừng sau khi công bố kết quả cuộc khảo sát kết hôn cùng giới ở phía trước Thư viện Tiểu bang Victoria ở Melbourne, Úc, ngày 15 tháng 11 năm 2017. Ảnh: David Crosling / EPA

Bài báo được viết bởi Rodney Croome, một nhà vận động đã dành cả đời mình để tranh đấu cho bình đẳng hôn nhân trên trang The guardian.

Từ rất lâu trước khi các chính trị gia chú ý tới, đã có hàng ngàn người góp phần dựng xây nền móng cho quyền bình đẳng hôn nhân tại Úc. Bài viết này sẽ kể câu chuyện về một vài người như thế.

Khi chúng ta đang ăn mừng thắng lợi của quyền bình đẳng hôn nhân (chú thích: dự luật về quyền bình đẳng hôn nhân, bao gồm hôn nhân của cộng đồng LGBTI vừa được thông qua tại Thượng Viện Úc hôm 06/12/2017 vừa qua), hãy đừng quên nhắc tới những con người mà tên tuổi của họ có thể không bao giờ được ghi trong sử sách, nhưng những đóng góp của họ chính là thứ cốt yếu đã đem lại thành quả mang tính cách mạng hôm nay.

Câu chuyện của họ nhắc nhở chúng ta rằng, đã có một phong trào đòi quyền bình đẳng hôn nhân diễn ra suốt cả hàng thập kỷ trước khi chính phủ Úc tổ chức cuộc khảo sát trong dân chúng qua đường bưu điện về vấn đề này hồi tháng 9 vừa qua. Nếu không nhờ vào những chiến thắng vang dội của phong trào đó trong việc thay đổi quan niệm của người dân, thì cuộc khảo sát đó đã thất bại thảm hại rồi, còn các nghị sĩ thì vẫn tranh cãi liên miên và quyền bình đẳng hôn nhân vẫn chỉ là mơ ước.

Người tiên phong

Trên tư cách là chủ tịch thời kỳ đầu của tổ chức Australian Marriage Equality (Bình đẳng Hôn nhân cho nước Úc), Peter Furness đã giúp đem vấn đề này ra công chúng, khi mà còn quá ít người muốn thảo luận về nó.

Ông đã lập ra văn phòng đăng ký hôn nhân cấp thành phố đầu tiên cho người đồng tính ở miền Nam Sydney, tuy nhiên ông thực sự gây tiếng vang khi đứng ra thách thức một cơ quan chính quyền là Cục Thống Kê.

Peter rất phẫn nộ khi mà trong đợt thống kê dân số, cơ quan này đã không công nhận hôn nhân của ông với người bạn đời là Theo (công dân Canada). Họ cho rằng Luật Hôn nhân của Úc không cho phép công nhận như vậy. Do đó, Peter tìm đến các luật sư và được cho biết rằng không có rào cản pháp lý nào đối với việc công nhận này. Tuy nhiên, Cục Thống Kê vẫn không chịu nhượng bộ. Peter và Theo bắt đầu tổ chức biểu tình ngồi trước văn phòng của cục này tại Sydney, quyết không chịu rời đi và chấp nhận bị bắt giữ, cho tới khi nào Cục Thống Kê chịu làm theo lẽ phải. Hành động bất tuân dân sự đầy dũng cảm này đã gây sự chú ý của truyền thông, Cục Thống Kê đành nhượng bộ và sau đó, tình trạng hôn nhân của cặp đôi đồng tính này đã được thể hiện trong kết quả thống kê dân số.

Từ thắng lợi nhỏ đó, những cuộc hôn nhân đồng tính cử hành ở nước ngoài bắt đầu được công nhận bởi hàng loạt các cơ quan khác của liên bang, sau đó là bởi luật tiểu bang, và cuối cùng là luật liên bang như hiện tại.

Người vận động ở cấp địa phương

Trên tư cách là thị trưởng vùng ở phía Tây Melbourne, Sharyn Faulkner có rất nhiều mối liên hệ và bà đã tận dụng chúng trong chiến dịch vận động dân biểu Sarah Henderson (đảng Tự Do), đại diện cho vùng, ủng hộ cho quyền bình đẳng hôn nhân – việc này cũng nhằm giúp cho con trai của Sharyn, vốn là một người đồng tính.

Sharyn Faulkner cùng đồng nghiệp từ Geelong for Marriage Equality. Photograph: Geelong for Marriage Equality

Sharyn tổ chức những cuộc họp mặt lớn tại trụ sở chính quyền vùng, trong đó có các chuyên gia y tế địa phương, các chức sắc tôn giáo, đại diện cộng đồng LGBTI, các lãnh đạo doanh nghiệp, các bậc trưởng lão, các câu lạc bộ thể thao…bất cứ ai có quyền lợi liên quan trong phong trào đòi cải cách luật hôn nhân. Nhờ những nỗ lực vận động không mệt mỏi của Sharyn đối với các cơ quan, định chế thiết yếu của thành phố Geelong, sự bình đẳng hôn nhân đã được khai sinh ở đây, đi trước khá xa so với các thành phố khác trên toàn quốc. Trong lực lượng ủng hộ đó, có cả các hội đồng thành phố tại Geelong và Surf Coast, và cả đội bóng đá thành phố Geelong – đây là đội bóng đầu tiên của Liên đoàn Bóng đá Úc lên tiếng ủng hộ quyền bình đẳng hôn nhân. Không lâu sau đó, toàn bộ các đội bóng khác trong Liên đoàn cũng hưởng ứng.

Ở Geelong, văn phòng của dân biểu Sarah tràn ngập hàng ngàn các bưu thiếp về bình đẳng hôn nhân và hàng chục cử tri mong muốn bà ủng hộ cho phong trào cải cách – cũng là nhờ công của Sharyn.

Tôi đã tham gia hỗ trợ tại một trong các quầy ký tên bưu thiếp của Sharyn ở một khu chợ ngoại ô của thành phố.

Chúng tôi đều nhận ra sự bất ngờ trên gương mặt của Sarah khi cô ra chào hỏi và bắt gặp một dãy những người bán hàng, các bà mẹ trẻ và các ông bà háo hức ký tên vào những bưu thiếp ủng hộ quyền bình đẳng hôn nhân.

Không lâu sau đó, Sarah trở thành một trong những thành viên đầu tiên của Đảng Tự Do ra tuyên bố ủng hộ cải cách.

Chiến dịch của Sharyin đã ghi một mốc son cho các nhà vận động tại những địa phương khác noi theo, để thuyết phục những dân biểu địa phương của họ hậu thuẫn cho bình đẳng hôn nhân.

Nhà nghiên cứu

Thật khó mà tìm được một nhà khoa học xã hội nào lại nghiêm túc về công việc và sứ mệnh của mình hơn là tiến sĩ Sharon Dane.

Sharon là trưởng nhóm thực hiện một công trình nghiên cứu đột phá tại đại học Queensland, có tên gọi Not So Private Lives (Những cuộc đời không riêng tư cho lắm), nghiên cứu đầu tiên của Úc tập trung vào câu hỏi: “liệu những người trong cộng đồng LGBTI muốn mối quan hệ của họ được thừa nhận bằng những luật “trên thực tế” (de facto), dưới dạng “kết hợp dân sự” (civil union) hay là hôn nhân. Nghiên cứu đã cho thấy, những người LGBTI không coi “trạng thái trên thực tế” (de facto status) hay kết hợp dân sự là đủ để thay thế cho bình đẳng hôn nhân, nhất là những người mà đang thực sự ở trong những mối quan hệ được thừa nhận về mặt pháp lý đó.

Công trình nghiên cứu của Sharon xuất hiện đúng vào lúc các nghị sĩ liên bang đang đối phó lại với đòi hỏi ngày một gia tăng về bình đẳng hôn nhân bằng cách tuyên bố rằng sự công nhận “trên thực tế” (de facto) là đủ rồi, hoặc bằng cách đề xuất khái niệm “kết hợp dân sự” như một biện pháp thỏa hiệp. Các kết quả nghiên cứu của Sharon là vô cùng quan trọng để bẻ gãy cả những lí cớ đó, nhằm biện minh cho việc không hành động, và cũng để xác lập dứt khoát quan điểm rằng: cộng đồng LGBTI sẽ không chấp nhận bất cứ cái gì khác ngoài sự bình đẳng hoàn toàn về hôn nhân.

Tiếp theo đó, Sharon thiết kế và thực hiện một nghiên cứu độc lập khác, cho thấy người LGBTI phản đối cả việc tổ chức trưng cầu dân ý lẫn việc đặt ra những ngoại lệ miễn trừ mà trong đó cho phép những hình thức kỳ thị liên quan tới việc hôn nhân của cộng đồng LGBTI nhân danh “tự do tôn giáo”. Nhờ phương pháp luận bài bản, không thể bắt bẻ của Sharon mà các nhà làm luật đã không thể phớt lờ những kết quả nghiên cứu đó. Điều này đã có tác dụng thuyết phục Thượng Viện ra quyết định ngăn chặn cuộc trưng cầu dân ý năm 2016 và thuyết phục Hạ Viện bỏ phiếu phủ quyết những đề xuất tu chỉnh về “tự do tôn giáo” kiểu này hồi tuần trước, với lí do là chúng không cần thiết và gây hại.

Bạn đời của một người quá cố

Một hoàn cảnh thật thương tâm đã đưa đẩy Ben Jago khiến anh nhận được sự chú ý của dư luận toàn nước Úc. Một buổi tối nọ, anh trở về căn nhà ở thành phố Hobart của mình và thấy người bạn đời của mình đã chết. Trong khi còn đang vật lộn với nỗi đau, thì Ben lại khám phá ra rằng cảnh sát và nhân viên giám định pháp y đã không công nhận anh là người thân thuộc của người bạn đời quá cố, mà đã trao quyền pháp lý đó cho người mẹ vốn xưa nay chẳng gần gũi gì với người đó. Sai lầm của nhà chức trách là ở chỗ họ mặc định rằng Ben và người bạn đời của mình đã không ở trong một mối quan hệ, do họ không có giấy chứng nhận kết hợp dân sự của tiểu bang Tasmania. Thực tế là, họ đã chung sống được 5 năm và có đủ những quyền giống như các cặp đôi khác, nhưng quyết định của nhà chức trách đã kịp gây ra thiệt hại không thể cứu vãn.

Ben bị từ chối quyền được nhìn thấy lần cuối thi thể của bạn đời trong bệnh viện. Anh chỉ được phép dự tang lễ sau những thương lượng giữa gia đình 2 bên và với điều kiện là anh phải ngồi ở hàng ghế sau với những người bạn khác và không phát biểu gì. Sau đó, Ben đã khởi động một vụ kiện chống kỳ thị mà hiện tại vẫn đang trong quá trình phân xử.

Nhưng ít nhất, nhà chức trách sau đó đã nhìn nhận sai lầm của mình, trong đó một viên chức chính phủ mà tôi tiếp chuyện đã nhìn nhận rằng chuyện này lẽ ra đã không xảy ra nếu như Ben và người bạn đời của mình được quyền kết hôn. “Giấy chứng nhận hôn nhân quả là thứ thần kỳ” – ông nói trong sự tiếc nuối khi chứng kiến tất cả những đau đớn mà Ben phải trải qua.

Khi câu chuyện của Ben được phổ biến trong dư luận toàn quốc, nó đã làm sụp đổ quan niệm rằng ý nghĩa của hôn nhân chủ yếu là ở tính biểu tượng. Câu chuyện này đã cho thấy rằng rõ ràng có những hậu quả thực sự và khủng khiếp của việc bị từ chối cấp giấy chứng nhận hôn nhân. Từ nay trở đi sẽ không còn chính trị gia hay bình luận gia nào có thể phát ngôn rằng hôn nhân đối với các cặp đôi đồng tính chỉ đơn giản là chiếc bánh cưới và những sợi confetti.

Vị chủ chăn tốt lành

Nếu cho rằng tất cả những người tin Chúa đều chống lại sự bình đẳng hôn nhân thì quan niệm đó là đặc biệt không công bằng đối với những người trong hàng giáo phẩm mà nằm trong số những người ủng hộ cải cách mạnh mẽ nhất, như mục sư Mike Hercock.

Mike đã trở thành người ủng hộ cho quyền bình đẳng hôn nhân khi ông gặp những cặp đôi đồng tính đang nuôi dạy con cái ở Sydney. Điều gây ra sự thay đổi trong ông chính là nguyên tắc của đạo Cơ Đốc (Ki-tô) về việc không lặp lại những điều bất công trong quá khứ – đó cũng là nguyên tắc mà ông áp dụng trong công việc mục vụ của mình với cộng đồng người bản địa Úc.

Tôi rất vinh dự được đứng bên cạnh Mike trong những cuộc họp với các nghị sĩ và trong các buổi hội nghị truyền thông. Nhưng các lãnh đạo trong hội thánh của ông lại nghĩ hoàn toàn khác, ngay cả khi cả cộng đoàn tín hữu của Mike cho phép ông được lên tiếng. Kết quả là họ đã ra quyết định trục xuất ông ra khỏi cộng đoàn, cắt số tiền trợ cấp hàng tháng và lấy đi cả căn nhà mà gia đình ông đang ở, ngay trước dịp Giáng Sinh. Một mặt, điều này gây khó khăn không nhỏ cho cả gia đình Mike, nhưng nó lại gây phẫn nộ lớn trong cộng đồng Cơ Đốc nhân trên khắp nước Úc, vì họ không thể tưởng tượng nổi việc này lại có thể xảy ra nhân danh một Thiên Chúa là Đấng yêu thương và nhân từ.

Sự ngược đãi đối với những người chủ chăn như mục sư Mike đã góp phần hình thành nên những nhóm tín hữu mà đóng vai trò trụ cột trong việc giành lấy sự bình đẳng hôn nhân, đó là những nhóm như là Equal Voices (tiếng nói bình đẳng), Christians for Marriage Equality (Cơ Đốc nhân vì sự bình đẳng hôn nhân) và Catholics for Equality (Người Công Giáo vì sự bình đẳng).

Người bất đồng quan điểm

“Thỏa hiệp” là một từ mà chúng ta đã nghe rất nhiều trong suốt cuộc tranh luận gay go cuối cùng ở nghị viện về bình đẳng hôn nhân. Dự luật do Thượng nghị sĩ Dean Smith đề xuất hàm chứa những điều khoản về “tự do tôn giáo”, cho phép những người chuyên làm tổ chức các lễ cưới dân sự và các những người làm kinh doanh mà tự xác định bản thân mình là “có tôn giáo” sẽ được được phép bày tỏ sự phân biệt đối xử. Điều này gây bức xúc với nhiều người LGBTI, trong đó có Alastiar Lawrie, người đã đấu tranh suốt nhiều năm để chấm dứt nạn kỳ thị đối với người LGBTI nhân danh Thiên Chúa.

Bằng những lập luận xác đáng và lôi cuốn, Alastair đã viết về những khiếm khuyết trong dự luật của Smith, cũng như những vấn đề lớn hơn đặt ra bởi những hình thức miễn trừ để cho phép phân biệt đối xử dựa trên niềm tin tôn giáo. (VD: một người chuyên làm tổ chức các lễ cưới dân sự sẽ có thể viện lí do rằng mình là người có đạo, phản đối hôn nhân đồng tính nên không chấp nhận cung cấp dịch vụ hôn lễ cho một cặp đôi đồng tính).

Lời lẽ của anh đã tác động mạnh lên các chính trị gia, góp phần dẫn đến việc Đảng Xanh đưa vào một số tu chỉnh nhằm cải thiện dự luật Smith, thúc đẩy một số thành viên Công Đảng nhìn nhận rằng dự luật lẽ ra đã có thể tốt hơn, đồng thời giúp đảm bảo việc Công Đảng bỏ phiếu ngăn chặn bất cứ điều khoản nào tệ hơn so với những điều khoản miễn trừ trong dự luật Smith.

Điều khiến thành quả này trở nên càng lớn lao hơn là ở chỗ, xu thế chính trị chủ đạo vào lúc đó đang bất lợi cho Alastair. Chiến dịch Bình Đẳng và các lãnh đạo chính trị trong nước muốn cho vấn đề bình đẳng hôn nhân được giải quyết nhanh chóng và đỡ gây tranh cãi lùm xùm. Giải pháp thỏa hiệp thắng thế, nhưng Alastair vẫn lên tiếng mạnh mẽ rằng khái niệm “tự do tôn giáo” – vốn từng là một lý tưởng cao cả – giờ lại đang bị lạm dụng để che đậy não trạng kỳ thị. Nhờ những người như Alastair mà vào chính thời điểm mà sự phân biệt đối xử về hôn nhân đã chết, thì một phong trào mới đã được khai sinh, đó là phong trào chống lại những đặc quyền tôn giáo.

Phong trào đòi quyền bình đẳng hôn nhân đã luôn là một phong trào từ dưới lên, tạo ra bởi những người bình thường nhưng được lịch sử kêu gọi để làm những việc phi thường.

Từ rất lâu trước khi các chính khách hoặc những người có uy tín, tiếng tăm chú ý tới, đã có hàng ngàn người như những tấm gương kể trên góp phần xây nên nền tảng để những người lãnh đạo đứng trên đó và tạo nên bước nhảy vọt như sự kiện mới đây ở Nghị viện Úc.

Vì thế, khi con bạn hỏi rằng quyền bình đẳng hôn nhân đã được giành lấy ra sao, hãy nhớ đến biết bao nhiêu con người vô danh ấy và thầm cảm ơn họ vì đã làm đất nước chúng ta đang sống tốt đẹp hơn.

Rodney Croome, Ivan Hinton-Teoh, Sarah Henderson và Sharyn Faulkner trong chiến dịch của Sharyn về bình đẳng giới ở Geelong. Ảnh: Geelong cho Marriage Equality

Nguồn bài dịch và ảnh từ Theguardian: The marriage equality movement had ordinary people doing the extraordinary

 

 

Comments

comments