Thiên An Môn: Thành công và thất bại

Tóm tắt:

Các cuộc biểu tình của sinh viên Trung Quốc vào cuối năm 1986 và đầu 1987 được truyền cảm hứng từ cơn bất mãn lan rộng khi nạn tham nhũng trầm trọng, lạm phát và tình trạng bất bình đẳng thu nhập ngày càng gia tăng. Chúng cũng đến từ lời kêu gọi của lớp trí thức như Fang Lizhi, với lời cổ vũ giới trẻ hãy “đoạt lại nền dân chủ về tay người dân”.

Hai ngày sau khi cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản với tư tưởng cải cách Hồ Diệu Bang qua đời (ngày 15/4/1989), một nhóm khoảng 600 giáo viên và sinh viên trẻ đã đặt vòng hoa cho ông tại Quảng trường Thiên An Môn, một trung tâm mang tính biểu tượng cho quyền lực chính trị của Trung Quốc (nơi xưa kia là cổng chính vào Tử Cấm Thành tại Bắc Kinh, được xây dựng vào năm 1417).

Hành động này đã gợi cảm hứng cho nhiều người khác làm như vậy ngay trong tối hôm đó và trong ngày hôm sau. Đến ngày thứ hai, các cuộc biểu tình bắt đầu xuất hiện, cùng lúc đó một bản danh sách gồm các yêu cầu được đưa ra, trong đó kêu gọi giới quan chức xem xét di chúc của Hồ Diệu Bang, minh bạch lương và tài sản của các quan chức chính phủ, ngừng kiểm duyệt báo chí, tăng tiền lương cho giới trí thức và tăng chi tiêu cho giáo dục. Các cuộc biểu tình đã nổ ra suốt bảy tuần liên tiếp ngay sau đó, khi hàng ngàn sinh viên chiếm lấy Quảng trường, tổ chức tuyệt thực, và nỗ lực đàm phán với các quan chức Đảng Cộng sản, trong khi hàng triệu người khác tham gia vào các hoạt động liên đới ở khắp các vùng nông thôn.

Khi các cuộc biểu tình tiến triển, thì sự khác biệt về chiến lược và về ý thức hệ cũng dần xuất hiện bên trong phong trào sinh viên, khiến cho phong trào này bị tách thành phe cấp tiến và phe ôn hòa. Thời điểm này cũng nổi lên các vấn đề phức tạp hơn khi các phong trào của giới trí thức, nhà báo, và công nhân bị chia rẽ, điều này càng khiến cho  những “kẻ ngoài cuộc” và những người biểu tình khác thường xuyên bị dao động. Bản chất đứt gãy của phong trào khiến cho việc phối hợp chiến lược trở nên rất khó khăn.

Các cuộc biểu tình đã gây ra vết rạn trong giới chóp bu cầm quyền của chính phủ Trung Quốc, khi những người cứng rắn thúc bách phải tiến hành đàn áp triệt để. Việc mạnh mẽ lên án không chỉ thất bại trong việc ngăn chặn các cuộc biểu tình, mà còn gây ra hậu quả xấu, đặc biệt là khi các sinh viên tuyệt thực và điều này tạo ra được mối đồng cảm của quần chúng.

Cuối cùng, khi không còn chịu nổi sự chống đối và nhục nhã, vào ngày 4 tháng 6, chính quyền Trung Quốc đã ra lệnh cho quân đội và hàng trăm xe tăng và xe bọc thép vây quanh quảng trường và nổ sung vào những người biểu tình không vũ trang, thậm chí cả các nhà báo ghi lại sự kiện này.

Hành động này của chính quyền là nhằm đưa ra một tín hiệu rõ ràng tới mọi thành phần trong xã hội rằng Trung Quốc đã đóng lại mọi cánh cửa cho cải cách dân chủ. Nhiều người biểu tình đã bị giết. Các nhóm ủng hộ dân chủ còn lại và các nhà hoạt động xã hội đã bị buộc phải im lặng, bị bỏ tù hoặc bị lưu đày, nhưng thời khắc lịch sử này sẽ không bao giờ bị lãng quên.

Lịch sử Chính trị

Phong trào sinh viên có lịch sử lâu dài trong quá trình chính trị của Trung Quốc. Trong một nghiên cứu, Trương (1990) đã viết rằng, “Từ triều đại nhà Hán (206 TCN đến 224 SCN) cho tới triều nhà Tống (960-1280) hay triều nhà Thanh (1644-1911), giới sinh viên đã có những phong trào bảo vệ các mục tiêu cao cả, từ sự sống còn của quốc gia và chủ quyền lãnh thổ cho đến sự trung thực của chính phủ và công bằng xã hội”. Giới sinh viên cũng đã thúc đẩy những phát triển chính trị quan trọng ở Trung Quốc hiện đại, chẳng hạn như Phong trào Ngũ Tứ năm 1919 phản đối các điều khoản của Hiệp ước Versailles, cổ vũ chủ nghĩa quốc gia Trung Quốc, và chính phong trào này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc được thành lập vào năm 1949 sau khi những người cộng sản nổi dậy đánh bại Quốc Dân Đảng khiến đảng này phải rút quân về Đài Loan. Chính phủ cộng sản mới đã tiến hành một cuộc cải tổ lớn, với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, cải cách ruộng đất nhằm phân chia đất đai cho nông dân, và làn sóng thay đổi văn hoá nhằm thanh lọc văn hoá truyền thống của Trung Quốc.

Mười năm sau những thất bại của những người theo chủ nghĩa quốc gia, chương trình Đại Nhảy Vọt tuy được gọi là nhằm công nghiệp hóa nhanh chóng nền kinh tế, song lại dẫn đến nạn đói lớn nhất trong lịch sử loài người khiến cho hàng triệu người bị chết. Đồng thời, cuộc Cách mạng Văn hoá bắt đầu vào năm 1966 cũng tạo ra tình trạng bất ổn lan rộng trên toàn quốc trong một thập kỷ.

Theo thời gian, Đảng Cộng sản đã giành được quyền kiểm soát vững chắc đối với nhà nước Trung Quốc, thông qua đó nó có thể kiểm soát phần lớn nền kinh tế cũng như các tổ chức văn hoá xã hội. Đặng Tiểu Bình, người từng bị làm nhục trong cuộc Cách mạng Văn hoá, đã lên nắm quyền sau cái chết của Mao. Ông tiến hành một số cải cách, đưa Triệu Tử Dương lên làm Thủ tướng và Hồ Diệu Bang làm Tổng bí thư Đảng, mặc dù sau đó ông đã hạ bệ cả hai người và đổ lỗi cho họ về việc cải cách quá mức, một điều mà ban đầu có vẻ chính ông đã ủng hộ.

Thâm hụt ngân sách diễn ra liên tục từ năm 1985, lạm phát tăng cao, đặc biệt là tình trạng tăng giá lương thực (tăng đến 40-50% mỗi năm) và nạn tham nhũng lan rộng, dễ thấy ở các đặc ân dành riêng cho con cháu của các quan chức cao cấp trong Đảng, đã tạo ra một bầu không khí bất mãn khiến cho​ phong trào sinh viên khởi phát.

Mặc dù báo chí bị kiểm soát chặt chẽ, song vì những nỗ lực cải cách ở cấp cao để cải thiện hình ảnh của Đảng, báo chí cũng bắt đầu đưa tin về tham nhũng, và việc này đã thổi bùng lên nỗi bất bình. Các nhà trí thức Trung Quốc, theo cách hiểu truyền thống được coi là những người nói lên tiếng nói bất bình, đã bắt đầu xuất bản các bài viết về dân chủ và viết thư ngỏ cho Uỷ ban Trung ương và Hội đồng Nhà nước.

Các cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn là một phần của “Phong trào Dân chủ” lớn hơn hay thậm chí là của nhiều phong trào đan xen vào thời điểm diễn ra các buổi lễ kỷ niệm trong năm 1989: kỷ niệm 200 năm Cách mạng Pháp, kỉ niệm 70 năm phong trào Ngũ Tứ, và kỷ niệm 40 năm thành lập quốc gia. Điều này khá đặc biệt ở một đất nước cộng sản, nơi mà tuy các nhà bất đồng chính kiến​​ thường xuyên bị đàn áp, song phong trào lại có thể nhanh chóng huy động một lượng lớn sinh viên và công dân trên toàn quốc, nhất là ở khu vực thủ đô.

Đặng Tiểu Bình, người đã lên án Hồ Diệu Bang trước đây, đã hạ bệ Triệu Tử Dương vì sự khoan dung của Triệu đối với người biểu tình. Họ Đặng cũng đưa ra một quan điểm cứng rắn đối với cuộc biểu tình tại Thiên An Môn. Theo các tài liệu của Đảng được tiết lộ, Đặng ngày càng trở nên cứng rắn hơn với giới sinh viên tham gia biểu tình. Vào ngày 13 tháng 5, chỉ hai ngày trước khi Tổng thống Liên Xô Gorbachev đến thăm, ông nói với các thành viên Bộ Chính trị rằng “Chúng ta không thể bị dắt mũi. Phong trào này kéo dài quá lâu, đến nay đã gần một tháng”.

Các hành động Chiến lược

Các sinh viên nói rằng họ đã chọn phương pháp bất bạo động bởi vì họ không đối chọi được với quân đội, và họ thấy trước cái cớ đàn áp của chính quyền nếu họ không làm vậy. Hơn nữa, phong trào không tìm cách lật đổ chính quyền, và họ cảm thấy rằng những mâu thuẫn mà họ đang cố gắng tháo gỡ không thể được giải quyết bằng bạo lực.

Hai nhà lý thuyết bất bạo động là Gene Sharp và Bruce Jenkins đã có mặt tại Bắc Kinh trong các cuộc biểu tình, họ nhận ra các phản ứng mâu thuẫn từ những người tham gia khi nghiên cứu về chiến lược, và cả hai kết luận rằng, “Thật khó để đánh giá đúng được mức độ quan trọng của tư duy chiến lược của phong trào”.

Các sinh viên mà Sharp và Jenkins phỏng vấn đều từng có kinh nghiệm với việc phản kháng bất bạo động trong quá khứ, song dường như họ không có sự hiểu biết nghiêm chỉnh về lý thuyết và chiến lược của việc đấu tranh bất bạo động.

Nhà quan sát Frank Niming viết rằng: “các nhà hoạt động sinh viên, những người chưa có kinh nghiệm hoạt động phong trào, phải đối mặt với hai vấn đề chiến lược then chốt: đầu tiên là làm thế nào để duy trì được sự độc lập với cuộc chiến phe phái đang diễn ra trong Đảng Cộng sản Trung Quốc; và thứ hai là tránh phê phán chính hệ thống chính trị, điều mà chắc chắn sẽ dẫn đến sự đàn áp ngay lập tức.”

Thông qua các mạng xã hội, các tổ chức, và các phương tiện truyền thông, những người tham gia phong trào đã chỉ cho các sinh viên khác thấy được sự bất công, và sau đó là lan truyền ra công chúng. Tuy nhiên, nhìn chung, phong trào được huy động và hành động thông qua các nhóm nhỏ và các cá nhân chứ không phải thông qua bất kỳ sự phối hợp chung nào. Việc lãnh đạo thường không chính thức và thường xuyên thay đổi trong thời gian ngắn, còn các đề xuất cho các hành động chiến lược dài hạn lại không được đề cao so với các chiến thuật ngắn hạn.

Trong suốt quá trình xung đột, một mặt những người biểu tình tại Thiên An Môn phải đối mặt với sự đàn áp ngày càng leo thang, và mặt khác, họ nhận được sự ủng hộ của công chúng. Chuỗi các hành động chiến lược bắt đầu bằng việc tưởng niệm Hồ Diệu Bang, sau đó là sự ủng hộ ngày càng tăng của công chúng đối với các cuộc biểu tình của sinh viên, nhà báo, và rồi một cuộc biểu tình với 10.000 người cùng đi xe đạp tập trung tại quảng trường, và cuối cùng là một cuộc tuyệt thực xảy ra trùng với thời điểm Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev có một chuyến thăm tới Trung Quốc.

Tiếp nối cuộc tuyệt thực này là một làn sóng ủng hộ mạnh mẽ cho những người biểu tình, khi mà hành động của họ đã đánh vào tình cảm của số đông người dân. Ở mỗi giai đoạn, giới sinh viên luôn cố gắng vượt qua những điểm yếu về tổ chức và việc đưa tin thiếu tích cực của truyền thông nhà nước, bằng cách tìm kiếm mối đồng cảm từ sự bất mãn của người dân.

Ở mỗi giai đoạn, các quan chức Đảng Cộng sản luôn cố gắng đàn áp phong trào trong khi vẫn phải xử lý các chia rẽ nội bộ của Đảng về việc cải cách. Đồng thời Đảng cộng sản Trung Quốc cũng ngày càng nhận thức rõ về mức độ ủng hộ ngày càng tăng của công chúng đối với phong trào, và lo sợ tình trạng “hỗn loạn” sẽ xảy ra, theo như biên bản của các cuộc họp bị rò rỉ.

Cái chết của Hồ đã tạo cơ hội để bày tỏ sự bất bình bằng những cuộc tụ họp tại Quảng trường, nơi sinh viên mang vòng hoa đến để tưởng niệm và mang theo khẩu hiệu cổ vũ “Tinh thần dân chủ” để tôn vinh Hồ Diệu Bang. Họ bắt đầu soạn một danh sách các yêu cầu để trình bày tại cuộc họp của các đại diện Đảng tổ chức tại Đại lễ đường Nhân dân cạnh đó.

Sau những cuộc biểu tình ban đầu, giới sinh viên dần nhận được sự ủng hộ của người dân, mặc dù giữa hai nhóm này vẫn còn khoảng cách. Những người dân đồng cảm này đã giúp cho sinh viên có thêm sự sự tin, bởi sự hiện diện của họ tại nơi diễn ra các cuộc biểu tình sẽ khiến cho các cơ quan chính quyền khó có thể  đàn áp các cuộc biểu tình một cách tàn bạo. Giới sinh viên đã đóng vai trò như những người đại diện cho công chúng, vì họ có ưu thế hơn trong việc đứng lên biểu tình, và họ cũng phần nào được bảo vệ.

Sau đó, một số công nhân đã tham gia vào các cuộc biểu tình chính thức, khi bị thúc đẩy từ một bài xã luận đăng trên tờ Nhật báo Nhân dân do nhà nước kiểm soát, với nội dung cho rằng phong trào sinh viên là “một hành động của những kẻ lưu manh” và một “âm mưu có kế hoạch” – một quan điểm được Đặng Tiểu Bình hết sức tán thành.

Bước ngoặt quan trọng giúp cho giới sinh viên có thể huy động được sự ủng hộ của người lao động chính là khi chính quyền áp đặt lệnh thiết quân luật, và sau đó sinh viên đã tổ chức một cuộc tuyệt thực. Giới công nhân theo từng đơn vị lao động đã hợp lại cùng nhau, họ mang theo những tấm biểu ngữ với tên của đơn vị lao động (nhằm làm giảm trách nhiệm pháp lý tiềm ẩn đối với mỗi cá nhân tham gia) để ủng hộ cho cuộc biểu tình, và từ đây mở rộng sự tham gia của giới trí thức và nhà báo.

Tuy nhiên, chiến thuật tổ chức này đã tác động tiêu cực tới các đơn vị lao động, và do đó đã cản trở nhiều người không dám đứng ra tổ chức hoặc cho phép các đơn vị của họ tham gia vào phong trào vì sợ bị trả thù trong tương lai.

Phong trào này chưa bao giờ mở rộng tới tầng lớp nông dân, mặc dù họ rất quan tâm đến tình trạng tham nhũng, sụt giảm thu nhập và sự bất bình đẳng khu vực ngày càng tăng, những thứ đã tạo ra cơn bất mãn ở vùng nông thôn.

Ngoài ra, việc tổ chức phong trào một cách phi tập trung đã gây trở ngại cho các kế hoạch chiến lược. Zhao nhận thấy rằng, nhà lãnh đạo phong trào nào hoặc tổ chức nào đề xuất ra những hành động chiến lược dài hạn song không có gì cấp tiến ở hiện tại thì sẽ bị lờ đi. Mâu thuẫn nảy sinh giữa các tổ chức khác nhau, đặc biệt là giữa Trụ sở Quảng trường Thiên An Môn và Liên đoàn Sinh viên Tự trị Liên hiệp các Đại học (gọi tắt là Liên đoàn), dù rằng có những thành viên tham gia cả hai nhóm.

Sharp và Jenkins đã xác định hai bài học chiến lược từ những quan sát của họ đối với phong trào Thiên An Môn và sự sụp đổ của nó. “Thứ nhất, một cuộc chiếm đóng bất bạo động đối với một địa điểm cụ thể (bất kể giá trị biểu tượng của nó có là gì) luôn mang đến rủi ro cho người biểu tình. Điều này sẽ khiến cho đối thủ dễ dàng tiến hành giải tán.” Thêm nữa, tính biểu tượng của địa điểm càng quan trọng thì đối thủ càng có khả năng hành động. Nếu họ rút lui vào ngày 27 tháng 5, theo lời của nhà lãnh đạo nổi tiếng Wuer Kaixi, thì họ đã có thể tuyên bố chiến thắng và lan truyền thông điệp của họ tới khắp Bắc Kinh và cả các vùng nông thôn. Vấn đề chiến lược thứ hai là “thất bại trong việc huy động sự bất hợp tác ở quy mô lớn từ chính những người có thể đóng góp để cuộc biểu tình tiếp tục diễn ra”, chẳng hạn như từ lực lượng công chức, quân đội, cảnh sát, nhân viên truyền thông và nhân viên giao thông.

Chính quyền đã nỗ lực đàn áp phong trào ngay từ ngày biểu tình đầu tiên, và tăng dần theo thời gian. Các nhân viên an ninh của trường đại học Bắc Kinh đã cố gắng ngăn chặn mọi hoạt động kỷ niệm của sinh viên ngay sau cái chết của Hồ Diệu Bang. Trong một tuần, các toán binh lính từ tỉnh Hà Bắc đã được thuyên chuyển tới Bắc Kinh, các đội chống bạo loạn đã được huy động, và các nhà chức trách đã nói rõ với báo chí rằng họ không dung thứ cho người biểu tình.

Vào ngày 24 tháng 4, Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị đã tổ chức một cuộc họp (nhân vật cải cách Triệu Tử Dương không tham dự do bận đến Bắc Triều). Lý Bằng đã dẫn đầu cuộc họp này, ông coi phong trào là “quấy rối”. Hai ngày sau, tờ Nhân dân Nhật báo đăng một bài xã luận gay gắt, phản đối cuộc biểu tình. Cùng ngày đó, cảnh sát đã giải tán Quảng trường Thiên An Môn và ngăn cản người biểu tình quay trở lại, mặc dù động thái này chỉ là tạm thời.

Dưới sức ép khôi phục lại trật tự, chính quyền đã tổ chức một cuộc họp với các đại diện liên đoàn sinh viên, nhưng không có sự tham gia của Wuer Kaixi, lãnh đạo Liên đoàn Sinh viên Tự trị Bắc Kinh. Mặc dù Triệu Tử Dương nói với các đại diện của Ngân hàng Phát triển Châu Á rằng “các yêu cầu của sinh viên sẽ được đáp ứng ngay”, song ông ngày càng bị cô lập và bị phản đối bởi các thành viên khác của Bộ Chính trị. Ông đề nghị rút lại bài xã luận của tờ Nhân dân Nhật báo ngày 26 tháng 4, song đề xuất này đã bị bác bỏ và ông cũng đã thất bại trong việc thuyết phục sinh viên giải tán khỏi quảng trường.

Một cuộc họp trên truyền hình giữa sinh viên với Lý Bằng và các quan chức khác đã rơi vào bế tắc, khi chính phủ không nhượng bộ. Hai ngày sau, lệnh thiết quân luật được ban bố ở Bắc Kinh, 250.000 quân được cử đến chiếm giữ các vị trí quanh thành phố, bao gồm các văn phòng truyền thông; truyền hình nước ngoài bị ngưng và các liên kết vệ tinh bị cắt đứt.

Một triệu người đã xuất hiện trong cuộc biểu tình ngày hôm sau, bất chấp lệnh thiết quân luật. Bên trong các lực lượng vũ trang xảy ra chia rẽ, khi hàng trăm quan chức quân sự cao cấp gửi một tuyên bố cho Lý Bằng rằng họ từ chối triển khai các đơn vị để “bắn vào nhân dân”.

Vài ngày trước đó (vào ngày 22 tháng 4), Quốc hội đã được triệu tập nhằm xem xét tính hợp pháp của lệnh thiết quân luật, sau đó mở rộng ra ngoài Bắc Kinh khi Lý Bằng và những người khác cáo buộc Triệu Tử Dương ủng hộ sinh viên. Bản cáo buộc này đã được nêu lại trong một cuộc họp của Bộ Chính trị và được lưu hành thành một tài liệu nội bộ giữa các lãnh đạo đảng.

Chính phủ đã tăng cường đàn áp, bắt giữ một số lãnh đạo phong trào, chỉ trích việc dựng tượng Nữ thần Tự do ở Quảng trường, cũng như tổ chức các cuộc biểu tình khác ở ngoại ô Bắc Kinh để cho thấy sự ủng hộ các chính sách của chính phủ. Quân đội cũng đã thâm nhập vào các cuộc biểu tình tại Thiên An Môn (1).

Trong vòng một tháng, phong trào này đã thu hút hàng triệu người ủng hộ ở 80 thành phố trong một cuộc biểu tình chưa từng có.

Dưới đây là các hành động mang tính chiến lược, chủ yếu tập trung vào việc phản kháng và thuyết phục chứ không phải là bất hợp tác hoặc can thiệp:

– Mở các cuộc họp mặt về dân chủ tại các trường đại học từ năm 1988 để thảo luận những mối bất bình và các giải pháp dân chủ;

– Xuất bản tác phẩm của Fang Lizhi, một nhà vật lý thiên văn, người khuyến khích giới trẻ hãy “giành lại dân chủ về tay người dân” vào giữa năm 1980; lá thư Fang gửi tới một tờ báo Hồng Kông nhằm ủng hộ việc thành lập các nhóm khẩn cấp để vận động cải cách đã được đưa lên diễn đàn các trường đại học vào tháng 3 năm 1988;

– Tại một cuộc họp báo của phóng viên nước ngoài (1988), một lá thư do hơn 30 trí thức ký tên đã được đưa ra nhằm kêu gọi ân xá cho các tù nhân chính trị. Tiếp sau đó 10 ngày là một lá thư ủng hộ, do 40 nghiên cứu viên tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc tham gia ký kết;

– Các tấm áp phích là công cụ quan trọng để liên lạc thông tin, vì phương tiện truyền thông độc lập đã bị đàn áp. Vào năm 1988, các tấm áp phích dán trên tường của đại học Bắc Kinh đã kêu gọi một hệ thống đa đảng và thẳng thắn tấn công Đảng Cộng sản Trung Quốc;

– Chỉ trong vài ngày sau cái chết của Hồ Diệu Bang, các tấm áp phích xuất hiện trên khắp 31 trường đại học ở Bắc Kinh với chủ đề tập trung vào tự do báo chí, tự do hội họp, dân chủ, và vấn đề tham nhũng của nhà cầm quyền.

– Một bản kiến nghị gồm 12 điểm được giới sinh viên trình lên Ủy ban Thường vụ của Quốc hội vào ngày 2 tháng 5 nhằm kêu gọi đối thoại trên cơ sở bình đẳng, công khai trên các phương tiện truyền thông nhà nước;

– Các yêu cầu bắt đầu tăng lên với những lời kêu gọi cho dân chủ và khoa học. Sau đó bài đăng đả kích phong trào trên tờ Nhật báo Nhân dân vào ngày 26 tháng 4 đã bị lên án, và cuối cùng là những lời kêu gọi lãnh đạo Đảng phải từ chức;

– Những người ngoài cuộc tuy không chính thức tham gia biểu tình, song cũng hỗ trợ các sinh viên bằng tiền, kem, thực phẩm và đồ uống;

– Tổ chức các cuộc biểu tình và giăng lên các biểu ngữ của từng trường cao đẳng, đại học;

– Các cuộc biểu tình nổ ra trên khắp 51 thành phố Trung Quốc;

– Các nhóm sinh viên bị phân tán đã sử dụng mạng điện thoại và dùng tiếng trống để trao đổi thông tin, họ cũng dùng tới loa phóng thanh tại quảng trường Thiên An Môn;

– Các nhóm sinh viên dùng loa phóng thanh đi qua các khu phố ở Bắc Kinh để loan báo cho người dân về những bất bình nhằm cố gắng giành được sự ủng hộ;

– Một nhóm sinh viên dựng lên một tác phẩm điêu khắc với hình ảnh Nữ thần Tự do, và đặt nó ở ngay quảng trường Thiên An Môn;

– Sử dụng báo chí, từ phòng phát thanh của trường cho tới báo chí quốc tế, để phổ biến các thông điệp;

– Tẩy chay các lớp học ở đại học;

– Các cuộc tuyệt thực: một cuộc tuyệt thực quy mô lớn bắt đầu vào ngày 13 tháng 5 với 6.000 sinh viên tham gia, một số người còn không uống nước; đây có lẽ là cuộc tuyệt thực lớn nhất trong lịch sử;

– 100 quan chức quân đội về hưu đã soạn ra một bức thư phản đối lệnh thiết quân luật;

–  Quân lính và thậm chí cả các sĩ quan đã tự nguyện quay trở lại khi bị các công dân chặn lại trên đường diễu hành tới quảng trường Thiên An Môn ngay sau khi lệnh thiết quân luật được ban bố vào ngày 20 tháng 5.

–  Tiếp quản các tổ chức sinh viên hiện có và thành lập Liên đoàn Sinh viên Tự trị Liên hiệp các Đại học Bắc Kinh và Phái đoàn Đối thoại;

–  Thành lập Hội đồng Tuyệt thực và Hội đồng Bảo vệ Người Tuyệt thực, tiếp theo là thiết lập Trụ sở Quảng trường Thiên An Môn sau khi ngưng tuyệt thực;

– Chiếm giữ Quảng trường Thiên An Môn, bắt đầu bằng các cuộc biểu tình vào ngày 14 tháng 4 năm 1989 và vẫn chưa chấm dứt cho tới khi xảy ra cuộc đàn áp vào ngày 4 tháng 6.

Các sự kiện diễn ra sau đó

Solinger cho rằng việc đàn áp bằng bạo lực đối với phong trào chính là “bằng chứng về sự mong manh của nhà nước Trung Quốc”, song nó cũng là sự bất lực của giới sinh viên trong việc duy trì một phong trào rộng khắp có thể thách thức nhà cầm quyền một cách thành công. Rốt cuộc thì, Trung Quốc có vẻ như đã không còn bất ổn và dường như đã có thể vượt qua cơn bão quan hệ toàn cầu. Một thời gian sau sự kiện ngày 4 tháng 6, các hành vi bí mật kháng cự lại chính quyền cứ luân phiên xuất hiện (chẳng hạn như các khẩu hiệu dán trên trường đại học), và giới sinh viên tiến hành một kiểu đường lối “không hỏi, không nói” như một thái độ đối với chính quyền, theo tin tức của hãng tin Tân Hoa Xã.

Có nhiều người lãnh đạo lớn của phong trào đã chạy trốn khỏi đất nước, một số tổ chức các phong trào kháng chiến ở nước ngoài như Liên đoàn Dân chủ Nhân dân Trung Hoa được dẫn dắt bởi Yan Jiaqi, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính trị của Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, và một người khác cũng là người nhiệt liệt ủng hộ cho giới sinh viên trong suốt phong trào. Một số các nhà lãnh đạo sinh viên nổi bật như Wu’er Kaixi và Chai Ling đã chuyển sang các trường đại học Mỹ và châu Âu.

Các quan chức chính quyền đã cố gắng thực hiện một chiến lược kiểm soát thiệt hại cả về phương diện trong nước lẫn quốc tế, tập trung nhiều vào việc phát triển kinh tế hơn là cải cách chính trị sau vụ đàn áp Thiên An Môn. Chiến lược này đã cho phép chính quyền độc tài duy trì việc kiểm soát người dân, song hàng chục nghìn các cuộc biểu tình lẻ tẻ vẫn cứ diễn ra và liên tục tăng lên trong những năm gần đây.(2) Tuy nhiên, cuộc điều tra Pew năm 2008 cho thấy mức độ hài lòng đáng nể của các công dân Trung Quốc khi được hỏi về hướng đi của đất nước và nền kinh tế. Một cuộc điều tra năm 2002 cũng cho thấy 48% người được khảo sát hài lòng với cách thức mà đất nước này đang vận hành (3), và tỷ lệ này đã tăng lên đến 86% trong cuộc khảo sát năm 2008, tuy nhiên những người được khảo sát đã trả lời rằng họ ít hài lòng hơn với cuộc sống cá nhân và gia đình của họ.

Gần đây, giới bất đồng chính kiến đã sử dụng các phương tiện truyền thông khác, như là viết blog và dùng Internet để phản đối và cách làm này đã đạt được thành công phần nào, song những nỗ lực này luôn bị các nhà chức trách tích cực ngăn chặn. Chase cho rằng mặc dù chính quyền Trung Quốc đang tương đối thành công trong việc đàn áp những ý kiến bất đồng trên Internet, song sự mở rộng nhanh chóng và hiện đại hoá lĩnh vực công nghệ thông tin của Trung Quốc “rốt cuộc rồi sẽ đứng về phía phe chống đối”.

Những nỗ lực nhằm tạo ra sự phản đối chính thức đã bị nghiền nát. Mặc dù trong chuyến thăm Trung Quốc năm 1998, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ký kết Công ước Liên hiệp quốc về Các Quyền Dân sự và Chính trị, song Trung Quốc vẫn cấm thành lập các đảng đối lập. Vào cuối năm 1998, các nhà lãnh đạo của Đảng Dân chủ Trung Quốc – một đảng không được công nhận và bị trấn áp nhanh chóng – đã bị tuyên án 11-13 năm tù giam. Cùng năm đó, Liên minh Phát triển Trung Quốc, tuy chỉ là một tổ chức môi trường, cũng đã bị giải tán. Tuy nhiên, đến cuối những năm 1990, hơn một triệu tổ chức phi chính phủ đã được thành lập.

Một điều thú vị là, sự đàn áp của chính quyền Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc cách mạng năm 1989 của Đông Âu. Vài tháng sau cuộc tàn sát ngày 4 tháng 6 tại Quảng trường Thiên An Môn, đế chế Xô Viết ở Đông Âu sụp đổ, và chính quyền đã phải đàm phán với người dân và cho phép tổ chức các cuộc bầu cử. Một trong những lý do cho bước ngoặt lịch sử này (đỉnh điểm là sự sụp đổ của bức tường Berlin vào tháng 11 năm 1989) chính là việc Liên Xô đã từ chối tăng viện quân đội cho các nước khác.

Nhà lãnh đạo cộng sản Đông Đức là Erich Honecker đã ủng hộ “giải pháp của Trung Quốc” đối với các cuộc biểu tình lớn ở Leipzig và Đông Berlin, ông đề nghị rằng quân đội nên bắn bỏ những kẻ nổi dậy trẻ tuổi để kiềm chế các cuộc biểu tình leo thang. Rõ ràng, những cố vấn của Honecker đã nhìn ra sự vô ích trong chiến lược này. Vị giám đốc an ninh 82 tuổi là Erick Mielke đã nói với Honecker rằng “Erich, chúng ta không thể nào đánh bại hàng trăm ngàn người được”.

Mikhail Gorbachev đã viết trong cuốn Hồi ký của mình rằng, ​​”Tạ ơn Chúa, vị lãnh đạo mới của Đông Đức đã có đủ can đảm và thông minh để kiềm chế việc dập tắt sự bất ổn bằng máu”. Chính vụ thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn đã gây ra cơn sóng thần trong toàn thế giới cộng sản. Phong trào Thiên An Môn tuy có thể không thay đổi được Trung Quốc vào năm 1989, nhưng nó đã giúp tạo ra những cuộc nổi dậy bất bạo động ở nhiều nơi khác.

Chú thích:

1. Saich (1990: 178); Sharp và Jenkins (1989: 8) đưa tin rằng một nhóm tự gọi mình là Liên đoàn Lao động Tự trị đã dựng một trạm trên quảng trường và hét lên với mọi người rằng “hãy giết chết đám binh lính”, và rồi nhóm này rời đi ngay trước cuộc thảm sát. Điều này làm dấy lên câu hỏi rằng những người này liệu có phải là bọn tay sai kích động.

2. “Mười điều bạn nên biết về Trung Quốc”

3. Câu hỏi trong bài khảo sát: “Nhìn chung, bạn có hài lòng hay không hài lòng với cái cách mà mọi thứ đang vận hành tại nước ta ngày nay?”

Nguồn bài dịchThe Chinese pro-Democracy Movement: 1987-1989; tác giả Lester Kurtz viết tháng 10/2010

Nguồn ảnh: Artbox.com

Comments

comments