Tiến trình Helsinki và sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở châu Âu

Tầm nhìn và Động lực

Khi Hội nghị về An ninh và Hợp tác Châu Âu (CSCE) bắt đầu vào năm 1972 tại Helsinki, Phần Lan; không ai ngờ được rằng những gì đã được khởi đầu như là nỗ lực cải thiện mối quan hệ giữa phương Tây và khối Xô Viết lại sẽ biến thành một phong trào khu vực để chuyển hóa các chế độ cộng sản thành các chế độ dân chủ, tự do1. Suốt ba năm sau đó, các đại diện từ Hoa Kỳ và Canada, Liên Xô và tất cả các nước lớn ở châu Âu  đã tiến hành  đàm phán về các vấn đề an ninh, kinh tế và nhân đạo. Sau thế chiến II, người dân ở Liên Xô và các quốc gia trong tầm ảnh hưởng của Liên Xô tại Đông Âu đã phải sống dưới những hệ thống chính trị cực kì hà khắc. Khối Xô Viết đã tham gia vào một cuộc chiến tranh lạnh và một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân với các quốc gia tự do ở Tây Âu và Hoa Kỳ. Liên Xô chủ yếu coi hội nghị Helsinki như một cách để bảo vệ các đường biên giới sau thế chiến thứ II của họ và mở rộng thương mại. Hoa Kỳ thì hy vọng CSCE sẽ làm giảm căng thẳng và tạo điều kiện cho những nỗ lực kiểm soát vũ trang. Không bên nào nhận ra những hệ quả sẽ phát sinh từ việc đưa vào các điều kiện bảo đảm về nhân quyền trong thỏa thuận cuối cùng của hội nghị. Bỏ qua tầm quan trọng của các điều khoản này, Ngoại trưởng Liên Xô Andrei Gromyko tuyên bố, “Ở nhà riêng của mình thì chúng tôi là chủ nhà”. 2

“Tiến trình Helsinki” là thuật ngữ đề cập đến các sự kiện xảy ra trong mười lăm năm sau khi văn kiện cuối cùng của CSCE, Hiệp ước Helsinki, được ký năm 19753. Phần đầu của Hiệp ước này chứa các điều khoản đảm bảo rằng các quốc gia ký kết sẽ tôn trọng các quyền cơ bản của người dân , bao gồm tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo và tín ngưỡng, và thực hiện các quyền tự do dân sự và chính trị. Mặc dù không phải là một hiệp ước ràng buộc, thỏa ước này dựa trên đồng thuận và đề nghị tổ chức các cuộc họp đánh giá trong tương lai để giám sát việc thực hiện. Những cuộc họp này đã diễn ra ở Belgrade vào những năm 1977-1978, Madrid năm 1980-1983 và Vienna năm 1986-1989. Trong cuộc họp ở Belgrade, ý tưởng về một quy trình xem xét để theo dõi các vi phạm đối với Hiệp Ước Helsinki và bắt buộc các bên vi phạm phải chịu trách nhiệm đã được đưa ra bàn thảo. Thêm nhiều sáng kiến để điều tra và thúc ép, chế tài việc tuân thủ các điều khoản về nhân quyền của thỏa thuận đã được thông qua tại các cuộc họp ở Vienna.

Các điều khoản về nhân quyền trong Hiệp Ước đã tạo ra khuôn khổ làm gia tăng áp lực bên trong và bên ngoài đối với các chế độ cộng sản. Chúng đã trao cho các công dân trong khối Xô Viết một công cụ mạnh mẽ để chống lại áp bức, và cũng là lần đầu tiên khiến cho tình trạng nhân quyền của một quốc gia trở nên một vấn đề pháp lý trong bang giao quốc tế. Vào những năm 1980, các hoạt động xã hội (vốn chưa từng có tiền lệ), sự ra đời của mạng lưới Helsinki xuyên quốc gia, và áp lực về mặt nhân quyền từ phía Mỹ và nhiều chính phủ khác đã đặt nền móng cho những thay đổi chính trị không lường trước được. Đại sứ Liên Xô Anatoly Dobrynin sau này thừa nhận rằng hậu quả của Hiệp Ước Helsinki là “hoàn toàn vượt quá sức tưởng tượng của giới lãnh đạo Liên Xô”.4

 Mục tiêu và mục đích.

Các phong trào chính trị-xã hội nổi lên khắp cả khối Xô Viết sau khi Hiệp Ước Helsinki được kí kết đều chia sẻ mục tiêu chung là chấm dứt chính sách đàn áp của chính quyền đối với các quyền cơ bản của người dân. Cụ thể, họ tìm cách áp đặt việc thực thi các quy định trong Phần 7 của bản Tuyên bố về các Nguyên tắc của Hiệp Ước Helsinki, trong đó tuyên bố rằng các quốc gia ký kết sẽ phải “tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, bao gồm tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo hoặc tín ngưỡng” và “sẽ hành động phù hợp với các mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc và Tuyên bố về Các quyền con người phổ quát.” Cụ thể, “Tuyên bố về các quyền con người phổ quát” đã đưa ra các quyền về sự riêng tư, tự do tư tưởng, thông tin, biểu đạt và di chuyển, và cấm các hình phạt tàn nhẫn và bắt bớ tùy tiện, v.v. Để thực hiện mục tiêu này, các cá nhân trong Liên bang Xô viết và các quốc gia vệ tinh đã tổ chức các chiến dịch và thành lập các nhóm theo dõi để ghi nhận và công khai những vi phạm của các chính quyền đối với Thỏa Ước Helsinki. Dần dần, họ cũng tìm các thúc đẩy các cải cách chính trị. Sự chuyển hóa các chế độ cộng sản sang các hệ thống chính trị tự do, dân chủ là mục tiêu tối thượng mà các nhà hoạt động mong muốn.

 Yếu tố lãnh đạo

Các hoạt động dân sự đã tăng mạnh ở Liên Xô và các quốc gia Đông Âu sau khi Hiệp Ước Helsinki được ký kết. Thủ lĩnh của những phong trào này có nhiều nguồn gốc, xuất thân khác nhau. Họ bao gồm các trí thức, nhà khoa học, nhà văn, nghệ sỹ, công nhân, luật sư, và người thuộc các tôn giáo. Trong số những nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng nhất, có thể kể đến Lech Walesa – người sáng lập Phong trào Đoàn kết Ba Lan; nhà văn Vaclev Havel – người sáng lập phong trào Hiến chương 77 và Diễn đàn Công dân của Tiệp Khắc; v – Đức Hồng Y Karol Wojtyla của Ba Lan, người mà sau này trở thành Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II và đặt Giáo Hội Công Giáo vào vị trí lên tiếng mạnh mẽ ủng hộ những người đấu tranh đòi nhân quyền. Họ chia sẻ một mục tiêu đơn giản nhưng triệt để: thuyết phục các chính quyền cộng sản tuân thủ các quy định về nhân quyền có ghi trong Hiệp Ước Helsinki. Chiến lược của họ là kêu gọi theo chiều “hướng lên trên” đối với các quan chức cộng sản và “hướng ra ngoài” đối với các chính phủ, truyền thông và các tổ chức phi chính phủ phương Tây. Trước những hoạt động này, các chính quyền cộng sản đã phản ứng lại bằng cách kết hợp nhượng bộ khôn khéo và đàn áp tàn bạo. Bất chấp những rủi ro và cảm giác rằng cuộc đấu tranh của họ hầu như vô ích, nhiều thủ lĩnh và tổ chức đấu tranh mới vẫn tiếp tục xuất hiện. Theo lời của một nhà hoạt động, “đôi khi người ta hỏi chúng tôi làm sao mà có thể tiếp tục làm việc khi mà rất nhiều trong số những cá nhân mà chúng tôi tìm cách giúp đỡ vẫn đang ở trong tù … khi mà các chính sách mà chúng tôi tìm cách thay đổi thì lại càng trở nên khắc nghiệt. Câu trả lời chỉ đơn giản là: làm sao chúng tôi có thể dừng lại được?”

 Môi trường dân sự

Các chính quyền của khối cộng sản kiểm soát rất chặt đời sống xã hội và chính trị. Sự đàn áp diễn ra phổ biến và các nhà hoạt động dân sự luôn phải đối mặt với những rủi ro lớn. Các nhà bất đồng chính kiến bị cầm tù, hành quyết, lưu đày, bị mất việc, và bị theo dõi liên tục bởi lực lượng mật vụ khét tiếng. Tính đến lần kỷ niệm 3 năm thành lập, hầu hết các thành viên sáng lập của Nhóm Helsinki, một tổ chức giám sát nhân quyền ở Mátxcơva, đã bị bắt hoặc buộc phải đi lưu vong. Vaclev Havel bị kết án lao động khổ sai. Lech Walesa đã bị tống giam và bị giám sát liên tục. Tuy nhiên, trong suốt thời gian của tiến trình Helsinki, các hoạt động dân sự vẫn tồn tại và ngày càng có nhiều hội nhóm độc lập ra đời. Những nhượng bộ nhỏ giọt của các chính quyền cộng sản, xuất phát từ mong muốn thu được lợi ích từ các cuộc đàm phán tiếp theo của CSCE, đã mở ra càng nhiều cơ hội cho các hoạt động dân sự. Những động thái mà bắt đầu như những nhượng bộ về nhân quyền, vốn chỉ nhằm trang điểm cho chế độ, dần dần đã dẫn đến những thay đổi thực sự và sâu sắc. Cho đến cuối những năm 1980, các chính quyền cộng sản đã mất khả năng kiểm soát xã hội.

 Thông điệp và người nghe

Sau khi ký kết Hiệp Ước Helsinki, hàng loạt phong trào hoạt động dân sự đã nổ ra. Trên khắp khối Xô viết, nhiều nhóm đã vận động để gây áp lực buộc các chính quyền cộng sản phải tôn trọng các điều khoản của Hiệp ước đã kí kết để bảo vệ nhân quyền căn bản của công dân nước mình. Phản ánh chiến lược “hướng lên trên” và “hướng ra ngoài”, mục tiêu mà những nhóm này nhắm tới trước hết là các quan chức cộng sản ở chính nước mình; thứ hai, những công dân bình thường, những người mà họ muốn kích thích, động viên để cùng tham gia hoạt động; và thứ ba là các chính phủ phương Tây mà họ tìm cách lôi kéo vào mục đích tranh đấu của họ.

Các nhà hoạt động ghi lại làm tư liệu về các vi phạm nhân quyền và gửi thư kháng nghị tới các chính quyền cộng sản, yêu cầu họ phải thực hiện nghĩa vụ theo thỏa ước Helsinki. Vào tháng 12 năm 1975 một nhóm các trí thức có uy tín nhất của Ba Lan và các nhân vật khác đã gửi một lá thư ngỏ cho người đứng đầu chính phủ Ba Lan yêu cầu thực hiện các quyền và nghĩa vụ có trong Hiệp Ước. Trong suốt năm 1976, nhiều nhóm hội phi chính thức trên toàn khu vực đã lén gửi được các thông tin về vi phạm nhân quyền ra ngoài, cho Bộ Ngoại giao của Hoa Kỳ và các nước Tây Âu.

Những tiếng nói đối lập rất đa dạng và phân tán đã nhanh chóng được tổ chức thành các phong trào chính trị- xã hội quy củ hơn. Ở Liên Xô, nhà vật lý hạt nhân Yuri Orlov, Yelena Bonner và những người khác đã hình thành Nhóm Giám sát Helsinki tại Mát-x-cơ-va vào đầu năm 1976 để theo dõi sự tuân thủ của Kremlin với các điều khoản về nhân quyền của Hiệp Ước Helsinki6. Các thành viên của nhóm đã đi khắp Liên Xô tiến hành nghiên cứu và gửi báo cáo tới Đại sứ quán của tất cả các nước CSCE và các nhà lãnh đạo Liên Xô. Các nhóm tương tự nổi lên khắp Đông Âu và bên trong các nước cộng hòa thuộc Liên Xô. Một nhà hoạt động Ba Lan giải thích, “Nếu họ có thể làm điều đó (bên trong  Liên Xô), trong ở trung tâm của đế chế, thì chúng tôi chắc chắn có thể làm được ở đây7“. Ở Tiệp Khắc, ​​phong trào Hiến chương 77 về nhân quyền đã xuất hiện vào tháng 1 năm 1977, do Vaclev Havel dẫn đầu. Các nhà hoạt động khác đã thực hiện nhiều tờ báo ngầm và phổ biến các ấn phẩm “samizdat” (tự xuất bản), tổ chức các cuộc tuần hành, đình công, các nhóm thảo luận tình hình và các hiệp hội độc lập tập trung vào một loạt các mối quan tâm đa dạng như quyền của người dân tộc thiểu số, tự do tôn giáo và quyền tự do đi lại. Các nhà lãnh đạo Giáo hội cũng góp tiếng nói vào mục tiêu chung, phổ biến Hiệp Ước Helsinki cho các cộng đoàn của mình và soạn các bài giảng lễ giải thích rằng tôn trọng nhân quyền là một đòi buộc nội tại của giáo lý Kitô giáo.

Trong thập niên 1980, các hoạt động dân sự bắt đầu có kết quả, mặc dù có sự gia tăng đàn áp trong những năm đầu của thập niên này. Năm 1980, các cuộc đình công tại Gdansk, Ba Lan, nhanh chóng lan rộng khắp cả nước và dẫn tới sự ra đời của công đoàn độc lập và phong trào xã hội Đoàn Kết. Trong vòng một năm, lượng thành viên của phong trào Đoàn Kết đã tăng lên hơn 10 triệu. Diễn tiến này gây chấn động cả khu vực vì đây là lần đầu tiên một tổ chức quần chúng độc lập đã hình thành trong một quốc gia thuộc khối Xô viết. Không chỉ đơn thuần là một tổ chức lao động, phong trào Đoàn Kết là một mạng lưới bao gồm Hội đồng Helsinki của Ba Lan, các Văn phòng Can thiệp Đoàn Kết có chức năng điều tra các vụ vi phạm nhân quyền, các hiệp hội sinh viên và các nhóm khác. Khẩu hiệu của phong trào “Không có bánh mì nếu không có tự do” phản ánh sự hiểu biết của phong trào Đoàn kết về mối liên hệ giữa phát triển kinh tế, nhân quyền và cải cách chính trị. Chương trình của họ kêu gọi hình thành một nước Cộng hòa tự trị. Một trong mười yêu cầu của những người tham gia đình công năm 1980 là chính quyền cho in và phân phối 50.000 bản sao của Hiệp Ước Helsinki.8

Trong một nỗ lực không thành công để dập tắt phong trào Đoàn kết, chính phủ Ba Lan đã thiết lập quân luật từ năm 1981-83 và bắt giữ hàng ngàn nhà hoạt động. Nhưng phong trào tỏ ra không thể bị ngăn cản, nhờ có liên minh giữa giới trí thức, công nhân và Giáo hội Công giáo – liên minh này được định hình sau khi ký thỏa ước Helsinki. Đến năm 1989, Lech Walesa đã tham gia thảo luận bàn tròn giữa phe đối lập và chính phủ. Những điều này đã dẫn đến chiến thắng của ứng cử viên Đoàn kết trong cuộc bầu cử bán tự do và chấm dứt chế độ cộng sản tại Ba Lan. Walesa sau đó nói rằng sự xuất hiện của các nhóm đối lập, hoạt động về nhân quyền và dựa trên Hiệp Ước Helsinki là “một bước ngoặt về con đường dẫn đến Gdansk ” – ý muốn nhắc đến các cuộc đình công ở đó đã dẫn đến sự ra đời của phong trào Đoàn kết.9

Sự hình thành và tác động của phong trào Đoàn kết đã làm cho các lãnh đạo cộng sản khác trong cả khối bắt đầu tự hỏi liệu họ có thể duy trì được chế độ tại nước mình hay không. Một trong những người đó là Mikhail Gorbachev. Các quan điểm bất đồng chính kiến đã được lan truyền và thảo luận rộng rãi trong các viện nghiên cứu của Liên Xô, để lại dấu ấn cho nhiều quan chức trong bộ máy của Liên Xô. Một người trong nội bộ đảng nói rằng, ông ta đã bị dòng văn học bất đồng chính kiến hoàn toàn chiếm lĩnh”10. Gorbachev, cùng với nhiều quan chức khác mà ông đưa lên, như Ngoại trưởng Eduard Shevardnadze và Alexander Yakovlev, từ lâu đã tiếp xúc với các tư tưởng của giới bất đồng chính kiến và đã nhận ra sự đúng đắn của chúng. Sau khi được chọn làm lãnh đạo Liên Xô vào năm 1985, Gorbachev đã thiết lập các chính sách perestroika (cải tổ), đề cập đến việc tái cơ cấu các chính sách xã hội và chính sách chính trị, và glasnost (cởi mở). Những điều này, dù vô tình hay hữu ý, đã đặt Liên Xô vào con đường tiến tới dân chủ hóa. Alexander Yakovlev giải thích, “Một thời điểm nào đó vào năm 1987, cá nhân tôi đã nhận ra rằng một xã hội dựa trên bạo lực và sợ hãi thì không thể cải tổ được và rằng chúng tôi đang đối mặt với một nhiệm vụ lịch sử quan trọng đó là giải thể toàn bộ hệ thống chính trị-xã hội này”11. Một số đáng kể các nhà lãnh đạo Liên Xô đã bắt đầu xem việc đàn áp chính trị là không hiệu quả và không thể chấp nhận về mặt đạo đức, và điều này có liên hệ trực tiếp đến sự tăng vọt của các hoạt động dân sự, vốn khởi nguồn từ tiến trình Helsinki.

 Các hoạt động tiếp cận

Việc tạo ra một mạng lưới xuyên quốc gia là một phần quan trọng của chiến lược “hướng ra bên ngoài” của các nhà hoạt động nhân quyền. Nhà bất đồng chính kiến ​​ nổi tiếng của Liên Xô – Alexander Solzhenitzn đã kêu gọi người phương Tây “Can thiệp càng nhiều càng tốt. Chúng tôi cầu xin các bạn hãy đến và can thiệp”.12 Tuy nhiên, ban đầu Hoa Kỳ coi CSCE như một phương tiện để tiếp tục quá trình “hòa hoãn” với khối cộng sản, chứ không phải để ép buộc các chế độ này cải thiện nhân quyền. Chỉ sau khi các nhà bất đồng chính kiến ở Đông Âu yêu cầu sự tuân thủ các quy định về nhân quyền của thỏa ước Helsinki thì các quan chức Hoa Kỳ mới bắt đầu tập trung vào vấn đề này một cách nghiêm túc13. Một cuộc họp giữa các nhà bất đồng chính kiến Liên Xô và các thành viên của Quốc hội Hoa Kỳ đã dẫn tới việc thành lập Uỷ ban Helsinki tại Hoa Kỳ, có mục đích là để buộc Kremlin phải có trách nhiệm với cam kết của mình theo Hiệp Ước. Các nhóm tương tự được thành lập ở Na Uy, Anh, Pháp, và nhiều quốc gia khác. Các nhóm này có liên lạc với các Nhóm Quan sát Helsinki, tức là các nhóm phi chính phủ, đã hình thành ở Đông Âu và Liên Xô. Năm 1982, Liên đoàn Nhân quyền Helsinki quốc tế được thành lập để điều phối, hỗ trợ và bảo vệ công việc giám sát của các nhóm ở cả từ Đông sang Tây. Các hoạt động của Liên đoàn Helsinki Quốc tế đã đóng góp đáng kể cho thành công của các nỗ lực gây sức ép đòi các chính quyền cộng sản phải thực thi nhân quyền. Khi các nhóm nhân quyền trở nên tích cực hơn và công việc của họ đã được nhiều người biết đến, Quốc hội Mỹ trở nên quyết đoán hơn và chính sách của Hoa Kỳ đối với Liên Xô mang tính đối đầu hơn. Nghị sĩ Mỹ Dante Fascell giải thích, điều này xảy ra nhờ hoạt động của các công dân bất khuất. “Các yêu cầu của họ khiến chúng tôi phải có phản ứng”.14 Các hội nghị kiểm định kết quả thực hiện thỏa ước Helsinki, diễn ra ở Belgrade, Madrid và Vienna đã cung cấp một phương tiện khác cho các hoạt động tiếp cận/vươn xa. Những cuộc họp trong nhiều năm tiếp theo là những nơi quan trọng để trao đổi thông tin và tạo cơ hội để tiếp tục gây áp lực lên chính quyền Liên Xô và các quốc gia Đông Âu về nghĩa vụ thực thi nhân quyền. Tại hội nghị Vienna năm 1986-1989, các phái đoàn phương Tây đã khẳng định rõ rằng việc bình thường hóa quan hệ với khối Xô Viết đòi hỏi phải có những cải thiện cụ thể về nhân quyền.

Các nhóm công dân độc lập cuối cùng đã truất phế được quyền lực từ những chế độ từng được coi là những nhà nước độc tài công an trị bất khả xâm phạm. Đến năm 1989, Bức tường Berlin đã sụp đổ, các cuộc bầu cử ở Ba Lan đã mang lại quyền lực cho một chính phủ do phong trào Đoàn kết lãnh đạo, và chế độ cộng sản Tiệp Khắc đã bị phế truất trong hòa bình. Trong hai năm tiếp theo, các chế độ cộng sản khác ở Đông Âu cũng ra đi, Liên Xô sụp đổ, và các cuộc bầu cử dân chủ đã được tổ chức trong toàn khu vực. Các nguyên tắc về nhân quyền chứa trong Thỏa Ước Helsinki đã thúc đẩy phong trào công dân ở các quốc gia thuộc khối Xô Viết, vốn là điều chưa từng có, và chúng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình các sự kiện lịch sử đó.

Mốc lịch sử

1972 Hội nghị về An ninh và Hợp tác Châu Âu (CSCE) bắt đầu ở Helsinki, Phần Lan. Đại diện của 35 quốc gia tiến hành đàm phán về an ninh, kinh tế và nhân đạo.
1975 CSCE kết thúc vào tháng Tám bằng việc ký kết Hiệp Ước Helsinki. Hiệp ước này có các điều khoản trong các các chính phủ cam kết tôn trọng các quyền con người cơ bản đối với công dân nước mình .
1976 Các hoạt động xã hội gia tăng ở Liên Xô và các quốc gia thuộc khối Đông Âu khi có các nhóm công dân làm công việc ghi nhận và công khai các vi phạm của chính quyền đối với Các điều khoản về nhân quyền của Hiệp Ước Helsinki. Các tổ chức nhân quyền được thành lập dựa trên các điều khoản Helsinki, chẳng hạn như Nhóm Giám sát Helsinki ở Matxcơva và Ủy ban Bảo vệ Công nhân của Ba Lan (KOR). Các lãnh đạo tôn giáo ở Đông Đức, Ba Lan và nhiều nơi khác lên tiếng ủng hộ và giúp truyền bá các điều khoản về nhân quyền của Hiệp Ước.
1976 Ủy ban Helsinki của Hoa Kỳ được thành lập bởi Quốc hội với mục đíchgiám sát việc tuân thủ Hiệp Ước Helsinki.
1977 Phong trào Hiến chương 77 ra đời tại Tiệp Khắc.
1980 Trong suốt thập kỷ, nền kinh tế trì trệ ở khối Liên Xô và các quốc gia Đông Âu gây ra nhiều khó khăn cho người dân và đặt ra sự cần thiết phải cải cách. Đồng thời, các nước phương Tây ngày càng nhấn mạnh mối liên hệ giữa cải thiện quan hệ ngoại giao, thương mại và đầu tư với hồ sơ nhân quyền của các nước cộng sản. Các hoạt động dân sự cùng với khó khăn về kinh tế và việc các chính phủ phương Tây sẵn sàng sử dụng các thế mạnh của họ để thúc đẩy sự tôn trọng nhân quyền càng khiến các chế độ cộng sản bị mất ổn định và suy yếu.
1980 Các cuộc đình công ở Ba Lan bắt đầu ở Gdansk và nhanh chóng lan rộng khắp đất nước,dẫn tới việc thành lập Liên đoàn Đoàn kết. Dẫn đầu bởi Lech Walesa, đây là lần đầu tiên một phong trào quần chúng độc lập được hình thành ở một nước khối Xô Viết.
1982 Liên đoàn Quốc tế Helsinki về Quyền con người được thành lập,liên kết các tổ chức nhân quyền vào thành một mạng lưới nhân quyền quốc tế có đủ sức mạnh để gây áp lực, buộc các chế độ cộng sản phải cải thiện nhân quyền dựa trên cam kết Helsinki.
1989-1990 Các cuộc cách mạng xã hội dẫn đến sự kết thúc của chủ nghĩa cộng sản tại Châu Âu.  Ứng cử viên thuộc Liên đoàn Đoàn kết chiến thắng cuộc bầu cử bán tự do ở Ba Lan, dẫn đến việc kết thúc chế độ cộng sản tại đây. Chính quyền cộng sản Tiệp Khắc sụp đổ. Chính phủ Đông Đức thông báo người dân được tự do đi du lịch đến Tây Đức. Điều này dẫn đến sự sụp đổ của bức tường Berlin và quá trình tái thống nhất của Đức. Tại Romania, Bulgaria và Hungary, các chính quyền cộng sản cũng đều bị phế truất.
1991 Liên Xô tan rã. Nga trở thành một quốc gia độc lập, cũng như nhiều các nước cộng hòa khác.

 

Tìm hiểu thêm

Tin tức và Phân tích

  • “About PA” Lưu trữ song song, Thư viện lưu trữ Xã hội Mở của Trường đại học Trung tâm Châu Âu. Đã truy cập vào ngày 2 tháng 11 năm 2016 tại <http://www.parallelarchive.org/content/about>.
  • “About Us” Vera & Donald Blinken Open Society Archives. Được truy cập vào ngày 2 tháng 11 năm 2016,tại <http://www.osaarchivum.org/about-us>.
  • Cambanis, Thanassis. “Làm thế nào một cái bắt tay ở Helsinki đã giúp kết thúc Chiến tranh lạnh “Boston Globe. Ngày 7 tháng 6 năm 2015. Truy cập vào ngày 2 tháng 11 năm 2016 tại <https://www.bostonglobe.com/ideas/2015/06/06/how-handshake-helsinki-helped-end-cold-war/YggtezKJGdM7d7jv8uEy5I / story.html>.
  • “Hiệp định Cuối cùng Helsinki” Tổ chức An ninh và Hợp tác ở Châu Âu. Tháng Tám, 1975. Truy cập vào ngày 2 tháng 11 năm 2016 tại <http://www.osce.org/helsinki-final-act>.

Sách, bài báo và video

  • “ABC – 1990 Báo cáo về sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản” Trường Lịch sử Quốc tế. Ngày 20 tháng 4 năm 2015. Truy cập vào ngày 2 tháng 11 năm 2016 tại <https://www.youtube.com/watch? v = qBZ2i2m3ai0>.
  • Ash, Timothy Garton. Cách mạng Ba Lan: Đoàn kết. New Haven: Nhà xuất bản Đại học Yale, 2002.
  • Hough, Jerry F. Dân chủ hóa và Cách mạng ở Liên Xô, 1985-1991. Washington, DC: Brookings Institution Press, 1997.
  • Kuran, Timur. “Now Out of Never: Sự ngạc nhiên ở Đông Âu Cuộc cách mạng năm 1989. “Chính trị Thế giới 44: No1 (1991): 7-48.
  • McFaul, Michael. “Qúa trình Helsinki ở Trung Đông” Dân chủ: Một hành trình của ý tưởng No. 8 (2008). Được truy cập vào ngày 2 tháng 11 năm 2016 tại <http://democracyjournal.org/magazine/8/a-helsinki-process-for-the-middle-east/>
  • Snyder, Sarah B. Phong trào nhân quyền Thế giới và Sự kết thúc Chiến tranh Lạnh: Một cuộc chuyển đổi lịch sử của mạng lưới Helsinki. New York: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2011.
  • Thomas, Daniel C. Ảnh hưởng của Helsinki: Nhân quyền và Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản. Princeton, NJ: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001.

Ghi chú

  1. Thuật ngữ khối Xô Viết được dùng để chỉ Liên Xô và các quốc gia nằm dưới sự thống trị của nó sau Thế chiến II: Bulgaria, Romania, Đông Đức,Hungary, Ba Lan và Tiệp Khắc. Tất cả những quốc gia này đều là thành viên của một liên minh gọi là Hiệp ước Vác-xa-va (Warsaw).
  2. Daniel C. Thomas, Ảnh hưởng Helsinki: Các tiêu chuẩn quốc tế, Nhân quyền và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản (Princeton, NJ: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001), 92
  3. “Hiệp Ước Helsinki,” Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu, tháng Tám, 1975, truy cập vào ngày 2 tháng 11 năm 2016 tại <http://www.osce.org/helsinki-final-act>.
  4. Daniel C. Thomas, Ảnh hưởng Helsinki: Các tiêu chuẩn quốc tế, Nhân quyền và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản (Princeton, NJ: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001), 120.
  5. Sarah B. Snyder, chủ nghĩa hoạt động nhân quyền và chấm dứt chiến tranh lạnh: Lịch sử xuyên quốc gia của mạng lưới Helsinki (New York: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2011), 133.
  6. Tên chính thức của nhóm là Nhóm hỗ trợ thực hiện Hiệp Ước Helsinki ở Liên Xô.
  7. Daniel C. Thomas, Ảnh hưởng Helsinki: Các tiêu chuẩn quốc tế, Nhân quyền và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản (Princeton, NJ: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001), 107.
  8. Daniel C. Thomas, Ảnh hưởng Helsinki: Các tiêu chuẩn quốc tế, Nhân quyền và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản (Princeton, NJ: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001) . 205.
  9. Daniel C. Thomas, Ảnh hưởng Helsinki: Các tiêu chuẩn quốc tế, Nhân quyền và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản (Princeton, NJ: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001), 204.
  10. Daniel C. Thomas, Ảnh hưởng Helsinki: Các tiêu chuẩn quốc tế, Nhân quyền và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản (Princeton, NJ: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001), 226.
  11. Daniel C. Thomas, Ảnh hưởng Helsinki: Các tiêu chuẩn quốc tế, Nhân quyền và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản (Princeton, NJ: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001), 240.
  12. Daniel C. Thomas, Ảnh hưởng Helsinki: Các tiêu chuẩn quốc tế, Nhân quyền và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản (Princeton, NJ: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001), 124.
  13. Daniel C. Thomas, Ảnh hưởng Helsinki: Các tiêu chuẩn quốc tế, Nhân quyền và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản (Princeton, NJ: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001), 123.
  14. Daniel C. Thomas, Ảnh hưởng Helsinki: Các tiêu chuẩn quốc tế, Nhân quyền và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản (Princeton, NJ: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001), 121.

 Nguồn bài dịch: The Helsinki process and the fall of Communist regimes in Europe

Comments

comments