Cách Gandhi giành thắng lợi – sử dụng nhiều chiến lược

Tác giả: Mark Engler và Paul Engler, 17 tháng 3 năm 2017 viết về Mohandas Gandhi

Vào cuối năm 1930, Ấn Độ đã trải qua tình trạng chia rẽ ở quy mô chưa từng thấy trong gần ¾ thế kỷ trước đó. Và tại đó, người ta cũng đã được chứng kiến sự tham gia của các phong trào xã hội ở một mức độ mà các nhà tổ chức – những người thách thức chế độ dân chủ – thường chỉ dám mơ ước tới.

Một chiến dịch bất hợp tác của người dân nhằm chống lại giới cai trị đã lan rộng khắp đất nước. Mohandas Gandhi và khoảng 80 tín đồ từ cộng đồng tôn giáo của ông đã lên kế hoạch tổ chức chiến dịch Hành Trình Muối nhằm chống lại sự độc quyền của Anh về khoáng sản. Trước khi chiến dịch diễn ra, hơn 60.000 người đã bị bắt, và có đến 29.000 người cùng bị đưa vào trại giam. Trong hàng ngũ của họ, có nhiều nhân vật đáng chú ý nhất đến từ đảng ​​Quốc Đại Ấn Độ, gồm cả những chính trị gia từng có lần miễn cưỡng ủng hộ hành động phi bạo lực trực tiếp.

Không chỉ người dân Ấn Độ sản xuất muối theo cách bất hợp pháp và phong tỏa các hoạt động về muối của chính phủ, mà chiến dịch còn áp dụng một loạt các chiến thuật bổ sung như một nỗ lực gia tang sức ép. Hàng trăm ngàn người dân từ chối trả thuế đất và gỗ. Các công chức chính phủ từ chức, khoảng một phần ba các quan chức địa phương ở một quận của Gujarat tuyên bố rằng họ sẽ từ bỏ chức vụ. Và các nhà hoạt động vẫn duy trì một cuộc tẩy chay có tổ chức đối với hàng nhập khẩu từ Anh sang Ấn Độ. Theo một nhà sử học, các trung tâm dệt may lớn bao gồm Calcutta, Bhagalpur, Delhi, Amritsar và Bombay “đã thực sự đi đến chỗ bế tắc một phần hoặc phần lớn vào năm 1930, do đình công, biểu tình và các doanh nhân tự đóng cửa”.

Các nhà quan sát dù gần hay xa đều có thể cảm nhận được tầm quan trọng về mặt lịch sử của thời điểm này. Ở Anh, Winston Churchill, và rồi một thành viên bảo thủ của Quốc hội, đã hết sức giận dữ về cái mà ông coi là sự kém cỏi của chính phủ trong việc bảo vệ đế chế. Các quan chức Anh ở Ấn Độ cũng rơi vào cảnh khốn đốn tương tự. Sir Frederick Sykes, thống đốc của Bombay, đã viết thư cho cấp trên của mình vào tháng 5 năm 1930 rằng: “Giờ là lúc cần phải thừa nhận một cách ngay thẳng cái sự thật là chúng ta đang phải đối mặt với ít nhiều những cuộc nổi dậy công khai … và chúng được rất nhiều người dân ủng hộ một cách chủ động hoặc thụ động. Vì lý do này hay lý do khác, chúng ta hầu như chẳng có lấy một người ủng hộ công khai nào”. Một vị cảnh sát chỉ huy đã mô tả khu vực của ông là:” gần như trong tình trạng lục đục suốt cả năm”.

Làm thế nào mà phong trào độc lập của Ấn Độ làm được điều này? Kiểu tổ chức nào đã thúc đẩy các cuộc nổi dậy diễn ra? Chiến lược nào đã dẫn đến sự bất tuân rộng rãi và phối hợp như vậy?

Thật ra, đây không phải là một chiến lược, mà là một sự kết hợp của một vài chiến lược. Và tài năng chính trị của Mohandas Gandhi chủ yếu là nhờ ông có thể gộp các chiến lược lại với nhau.

Ngày nay, với những ai muốn tạo nên sự thay đổi, bối cảnh của các phong trào xã hội có vẻ như rất phân mảnh và khó lường. Nhằm đối phó với vô vàn thách thức từ sự đàn áp chủng tộc, khai thác kinh tế và thảm hoạ môi trường, các nhóm khác nhau theo đuổi các chiến lược tổ chức khác nhau. Một số người tạo ra các cuộc huy động quần chúng – như Women’s March, Occupy Wall Street, hoặc những cuộc biểu tình lớn về quyền nhập cư – điều này đã thu hút sự chú ý của công chúng, song lại có thể nhanh chóng biến mất. Những người khác tập trung vào công việc tuy-chậm-mà-chắc trong việc xây dựng các tổ chức bền vững, chẳng hạn như công đoàn hoặc các đảng chính trị. Vẫn còn các nhóm khác thúc đẩy các cộng đồng văn minh và các thiết chế khác bên cạnh những xu thế chủ đạo. Thông thường, giữa các nhóm sử dụng các chiến lược khác nhau có rất ít mối liên hệ – và cũng ít có ý thức về mục đích chung.

Tuy nhiên, chúng ta không nhất thiết phải tự coi những nỗ lực khác biệt này là mâu thuẫn lẫn nhau. Các phong trào vận hành tốt nhất khi họ thừa nhận những vai trò đa dạng, từ đó tìm cách sử dụng những đóng góp của mỗi bên nhằm mục đích xây dựng. Trên thực tế, đây có thể chính là chìa khóa thành công.

Mặc dù việc Gandhi xây dựng tổ chức để chống lại chế độ cai trị của Anh ở Ấn Độ đã bắt đầu cách đây một thế kỷ, song ông đã gặp phải nhiều cuộc phân tranh tương tự mà chúng ta vẫn đang tiếp tục chứng kiến sự tái xuất hiện của chúng trong nền chính trị hiện đại. Do đó, việc ông có thể ấp ủ và nuôi dưỡng một hệ sinh thái các phong trào xã hội phong phú – nơi mà mỗi cách tiếp cận nhằm thay đổi xã hội đã giúp gia tăng những nỗ lực chống lại đế quốc – chính là một bài học hấp dẫn cho chúng ta ngày nay.

 Kết hợp các tổ chức

Gandhi là một trong những nhân vật nổi danh nhất của thế kỷ 20. Tuy nhiên, trong tất cả những tiếng tăm mà người ta thường nhắc tới khi nói về Gandhi, thì các chiến lược thực sự của ông nhằm thúc đẩy sự thay đổi xã hội ở Ấn Độ lại ít được biết đến. Nhiều người xem ông như một vị lãnh đạo tinh thần, một mình dẫn dắt mọi người bằng những lời lẽ đạo đức thuyết phục. Lại có những người biết tới các hành động bất tuân dân sự nổi tiếng của ông và của những người đi theo ông, ấy là những cuộc biểu tình đã được tổ chức kỷ niệm khắp nơi và rồi được dựng thành kịch trong những bộ phim của Hollywood. Và cũng có những người cho rằng ông là một nhân vật chính trị, ngồi ở bàn đàm phán với các sĩ quan của Đế quốc Anh.

Tất cả những ý nghĩ này đều phản ánh một vài khía cạnh trong đời sống chính trị của Gandhi. Tuy nhiên, hình ảnh mà chúng dựng nên lại chưa đầy đủ. Những phương pháp mà Gandhi đã thực hiện nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cho xã hội đều thú vị hơn so với những gì mà các khía cạnh trên chỉ ra. Cái khiến cho Gandhi trở thành một hình ảnh độc nhất đáng tìm hiểu trong lịch sử của các phong trào xã hội chính là khả năng của ông trong việc kết hợp một loạt các loại hình tổ chức khác nhau. Gandhi có khả năng nuôi dưỡng cái gọi là một “hệ sinh thái thay đổi” lành mạnh, tại đó những nhóm theo đuổi những lý thuyết hay thực tiễn khác nhau nhằm thay đổi xã hội đều có thể cùng nhau phát triển năng lực cho cả phong trào.

Cụ thể, ông hợp nhất ba chiều hướng hoạt động – tức là những xu hướng song song với các hoạt động hiện thời ở Hoa Kỳ và hơn thế nữa:

– Thứ nhất là việc huy động các hành động bất bạo động trực tiếp ở một quy mô lớn (mà Gandhi gọi là satyagraha – kháng cự bất bạo động).-

– Thứ hai là việc nỗ lực xây dựng một cấu trúc tổ chức bền vững (như đảng Quốc Đại Ấn Độ) để có thể tác động tới các thiết chế thống trị.

– Thứ ba là việc tạo ra các giải pháp thay thế bên ngoài xu hướng chủ đạo (như là các cộng đồng chung sống và học tập ashram của Gandhi hoặc như các “chương trình xây dựng”).

Đó là ba cách tiếp cận khác nhau để thúc đẩy sự tiến bộ – biểu tình quần chúng, tổ chức dựa trên cấu trúc, và tạo ra các giải pháp thay thế. Tuy chúng đã có mặt ở nhiều nước trong những thời kỳ khác nhau, song rất hiếm khi cả ba phương pháp này được kết hợp với nhau để phục vụ cho một phong trào xã hội. Gandhi chính là cầu nối giữa những đường hướng khác nhau này, ông đã đưa ra một mô hình đặc biệt nhằm giúp ích cho các phong trào khi kết hợp các chiến lược khác nhau lại với nhau.

Chúng ta không nhất thiết phải tôn thờ Gandhi khi thừa nhận cái tài năng hiếm hoi của ông trong việc làm cầu nối cho các nhóm này. Tuy có thể gây ngạc nhiên cho những người luôn coi ông là một vị thánh, nhưng sự thật là Gandhi luôn bị vấy bùn trong nhiều cuộc tranh cãi. Tính hợp lý của hàng loạt những lời kêu gọi về tôn giáo và xã hội của ông, cùng với giá trị của vô số các quyết định mang tính chiến lược mà ông đưa ra, là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận diễn ra liên tục ngay cả khi ông còn sống – và cả những cuộc tranh luận tiếp tục sau khi ông qua đời vào năm 1948. Tuy nhiên, dù có những tranh cãi và xung đột xung quanh sự nghiệp của Gandhi, chúng ta vẫn có thể rút ra được những kiến thức quý giá từ sự phát triển của phong trào độc lập Ấn Độ vào thời Gandhi, và từ sự thành công của ông trong việc nâng cao tinh thần chống đế quốc trước sự cai trị của Anh trên đất Ấn Độ.

Satyagraha: kích động một cuộc biểu tình quần chúng

Kiểu hoạt động đầu tiên mà Gandhi thúc đẩy có lẽ chính là kiểu nổi tiếng nhất: ông được biết đến nhờ đã tạo ra các chiến dịch gây rối của quần chúng, thu hút hàng nghìn người tham gia, lan rộng khắp các khu vực rộng lớn, và ngay tức khắc tạo ra các cuộc thảo luận chính trị. Gandhi gọi phương pháp huy động quần chúng này là satyagraha, hay còn gọi là áp dụng “chân lực” (truth force). Trong suốt cuộc đời mình, Gandhi đã dẫn dắt hơn sáu chiến dịch satyagraha lớn. Chúng được thực hiện trong suốt khoảng thời gian kéo dài bốn thập kỷ, bắt đầu bằng những thử nghiệm đầu tiên về sự bất tuân và bất hợp tác dân sự tại Nam Phi, và lên đến đỉnh điểm là những nỗ lực tác động tới toàn Ấn Độ.

Những cuộc huy động đầu tiên ở Ấn Độ bao gồm các chiến dịch đình công và phản kháng của tầng lớp nông dân vào năm 1917 ở Bihar và vào năm 1918 ở Gujarat. Tại Gujarat, những người nông dân đã từ chối trả thuế đất ngay cả khi phải đối mặt với các vụ bắt giữ, đánh đập và tịch thu đất nông nghiệp. Sau 5 tháng, chính phủ đã phải nhượng bộ và trả lại đất, thả tù nhân và nới lỏng thuế.

Trong khi những nỗ lực đầu tiên này chủ yếu đến từ các khu vực địa phương, thì satyagrahas đã phát triển thành các chiến dịch gây rối với phạm vi lớn hơn nhiều. Cũng giống như thời Gandhi, ngày nay khi các cuộc biểu tình quần chúng trở nên rầm rộ với hàng ngàn người xuống đường, chúng thường được coi là những cuộc nổi dậy “vô kế hoạch”, “cảm tính” và “tự phát”. Nhiều nhà quan sát không nghĩ rằng những biến động như vậy có thể được lên kế hoạch, họ cho rằng chúng chỉ là sản phẩm của một thứ tinh thần mang tính lịch sử. Song Gandhi có một cái nhìn khác.

Ông cho rằng những người lành nghề có thể tạo nên cái thời khắc cuộn trào. Một nghiên cứu trước đây về cuộc kháng cự dân sự của Gandhi đã ghi nhận rằng “Satyagraha, với tư cách là một kiểu hành động chính trị xã hội được áp dụng trong thực tiễn, đòi hỏi phải có một kế hoạch toàn diện, có sự chuẩn bị, và được thực hiện một cách có nghiên cứu.” Thật vậy, sự tinh tế của Gandhi trong kỹ thuật sử dụng chiến lược phi vũ trang chính là một đóng góp to lớn của ông cho lịch sử phong trào xã hội.

Cuộc kháng cự bất bạo động đầu tiên của Gandhi trên toàn quốc là vào giai đoạn 1920–1922, được gọi là Phong trào Phi hợp tác. Chiến dịch này được mở ra thông qua một loạt các hành động leo thang nhanh chóng. Nhà sử học Perry Anderson miêu tả bốn mức độ của hoạt động gây rối: “Trước hết là việc từ bỏ tất cả các tước hiệu và địa vị mà người Anh trao cho; tiếp theo là từ bỏ các chức vụ trong cơ quan công vụ; sau đó là các cảnh sát và quân đội tiến hành từ chức; và cuối cùng là từ chối trả thuế.” Sau khi Gandhi tuyên bố bắt đầu chiến lược vào tháng 8 năm 1920, động lực đã nhanh chóng lan truyền. Anderson viết rằng, “chiến dịch này đã kích thích cả đất nước, trên khắp các tầng lớp xã hội và các khu vực địa lý mà trước nay vẫn lãnh đạm trước sự khuấy động của chủ nghĩa dân tộc.” Theo sử gia Judith Brown, “Đàn ông và phụ nữ, người già và người trẻ, phố thị hay làng quê, tất cả đều có thể hành động theo cái cách phù hợp với họ, từ việc tham dự một cuộc họp để đóng cửa một cửa hàng cho tới thuyết phục người bán hàng địa phương ngừng bán áo quần và đồ uống nước ngoài.

Những tác động đã lan tràn trên diện rộng. Một nhà thơ nổi tiếng người Ấn Độ là Rambriksha Benipuri đã nhận xét: “Từ lúc tôi bắt đầu có thể nhận thức, tôi đã chứng kiến ​​vô vàn những phong trào khác nhau; tuy nhiên, tôi có thể khẳng định rằng không có phong trào nào khác có thể làm đảo lộn nền tảng của xã hội Ấn Độ bằng những gì mà phong trào Phi hợp tác đã làm.”

Vào đầu năm 1922, chính quyền Anh đã trở nên rối loạn nhưng chưa bị sụp đổ, và các nhà lãnh đạo phong trào Phi hợp tác xác định rằng phong trào này đã sẵn sàng bắt đầu một cuộc đình công về thuế. Tuy nhiên, chỉ bốn ngày sau khi công bố bước đi này, Gandhi đã gây ra tranh cãi khi quyết định kêu gọi tạm ngưng toàn bộ phong trào Phi hợp tác sau khi xảy ra một vụ bạo động ở phía bắc thị trấn Chauri Chaura.

Sau đó, Gandhi đã dành hai năm trong một nhà tù Anh để thúc đẩy các hành động nổi dậy. Mặc dù sự khôn ngoan mang tính chiến lược trong việc rút ngắn chiến dịch đã gây ra một cuộc tranh cãi gay gắt giữa những người ủng hộ và những người phản đối, song vẫn còn một điều chưa được nhắc tới là, phong trào đã thành công trong việc đưa các nguyên tắc của satyagraha từ chỗ áp dụng tại các khu vực như Bihar và Gujarat chuyển sang áp dụng cho một phong trào trên toàn Ấn Độ. Nhờ vậy, người ta đã chuẩn bị cho một làn sóng kháng cự dân sự mạnh mẽ hơn: Phong trào Muối.

Vào tháng 3 năm 1930, phong trào Muối đã bắt đầu bằng một cuộc diễu hành dài 200 dặm tới thành phố duyên hải Dandi, được tiến hành bởi Gandhi và những người ủng hộ ông, và nó đã mở rộng nhanh chóng ngay sau đó. “Cuộc diễu hành đã tạo ra sự công khai rộng lớn ở Ấn Độ”, Brown viết, và ngay sau đó đã có hàng triệu người gia nhập satyagraha. Mặc dù chính quyền Anh đã đàn áp các cuộc phản kháng và tiến hành hàng chục ngàn vụ bắt giữ trên khắp cả nước, nhưng việc kháng cự tiếp tục kéo dài mỗi tháng. Nhận xét về bề dày của cuộc huy động này, nhà lãnh đạo quốc gia Jawaharlal Nehru, tức Thủ tướng Ấn Độ tương lai, đã nói: “Có vẻ như một mùa xuân đã bất ngờ nổ ra.”

Sau gần một năm phản kháng, cảm thấy rằng động lực của chiến dịch đã giảm, Gandhi đã tiến hành thỏa thuận với vị tổng trấn người Anh là Lord Irwin. Trong khi các chính trị gia tranh luận về giá trị của những mục tiêu ngắn hạn được đảm bảo trong các thỏa hiệp, thì công chúng Ấn Độ nhận ra rằng Phong trào Muối đã gây ra một cú sốc lớn đối với uy tín của Anh trên đất Ấn Độ. Những người theo chủ nghĩa đế quốc một cách cứng rắn ở London cũng ủng hộ cái ý nghĩ này, dù họ vốn coi việc hòa giải là một sai lầm chết người của đế quốc.

 Xây dựng một cơ cấu đối lập: đảng Quốc Đại Ấn Độ

Tuy Gandhi đã đứng ra dẫn dắt những cuộc biểu tình quần chúng, ông cũng tham gia xây dựng một tổ chức ổn định lâu dài để có thể phục vụ như một thiết chế đại diện cho phong trào độc lập. Đó chính là đảng Quốc Đại Ấn Độ. Được thành lập vào những năm 1880, mục đích ban đầu của Quốc Đại là thúc đẩy tầm ảnh hưởng của giới tinh hoa Ấn Độ trong chính phủ do người Anh kiểm soát. Sau khi trở lại Ấn Độ vào năm 1915, Gandhi đã nỗ lực thay đổi bản chất và tầm nhìn của tổ chức, và trong những thập kỷ tiếp theo, Quốc Đại Ấn Độ ngày càng trở nên đối kháng với người Anh. Đến năm 1930, tổ chức này đã vận động nhằm đòi hỏi sự độc lập hoàn toàn cho Ấn Độ và yêu cầu loại bỏ chủ quyền của Anh trên đất Ấn. Ngay lúc đó, Quốc Đại Ấn Độ đã trở thành đảng cầm quyền của nền dân chủ lớn nhất thế giới. Vào ngày 15 tháng 8 năm 1947, Nehru, một trong những người đại diện hàng đầu của Gandhi, đã lên đảm nhiệm thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, đại diện cho sự chuyển đổi mạnh mẽ của đảng Quốc Đại từ một nhóm nhỏ bất đồng chính kiến ​​thành một đảng nắm giữ quyền lực nhà nước.

Sự tăng trưởng dần dần của Quốc Đại trong suốt hàng thập kỷ cũng tương tự như việc thành lập tổ chức “dựa trên cấu trúc” ở các nơi khác trên thế giới, chẳng hạn như sự hình thành các đảng dân chủ xã hội ở châu Âu. Trong bối cảnh của Mỹ, chúng ta có thể nhìn thấy những ví dụ về việc thành lập tổ chức dựa trên cấu trúc, như là hình thành các công đoàn lao động lớn, hoặc như mô hình xây dựng tổ chức dựa trên cộng đồng của Saul Alinsky nhằm thúc đẩy quyền lực của các thành viên của họ. So sánh với phong trào dân quyền Hoa Kỳ, thì chiến dịch satyagraha của Gandhi có thể coi là tương đồng với các chiến dịch cao cấp như Freedom Rides hay chiến dịch Birmingham, trong khi đảng Quốc Đại Ấn Độ lại mang nhiều điểm chung với những tổ chức bền vững như là NAACP.

Gandhi không thường xuyên tham gia vào việc lãnh đạo Quốc Đại Ấn Độ, và đôi khi ông tạm lánh một thời gian dài để tập trung cho các công việc khác của mình. Ông chỉ giữ các vị trí chính thức trong những khoảng thời gian tương đối ngắn, và ông đã từ bỏ tư cách đảng viên của mình một thời gian, bắt đầu từ năm 1934, sau khi cảm thấy thất vọng với nội bộ chính trị. Tuy nhiên, dù cho Gandhi có đóng vai trò chính thức nào tại thời điểm nào chăng nữa, thì ông cũng là một nhân vật chủ chốt của Quốc Đại trong gần ba thập niên, và những can thiệp của ông đóng vai trò quyết định trong việc định hình sự phát triển của tổ chức. Ngay cả những người chỉ trích Gandhi, chẳng hạn như sử gia Perry Anderson, cũng thừa nhận rằng, Gandhi “là nhà tổ chức và người gây quỹ hạng nhất – siêng năng, đầy năng lực, chu toàn – người xây dựng lại Quốc Đại từ trên xuống dưới, tạo ra cho nó một cơ quan hành pháp thường trực ở cấp độ quốc gia, các đơn vị địa phương ở cấp tỉnh, các cơ sở địa phương ở cấp huyện, và các đại biểu tương ứng với dân số, chưa kể đến một nguồn ngân quỹ dồi dào.”

Một vài thập niên sau, nhà lãnh đạo kỳ cựu của đảng Quốc Đại là Rajendra Prasad đã nhắc lại rằng, trước khi có sự tham gia của Gandhi thì “đảng Quốc Đại đã kích động ý thức dân tộc ở một mức độ nhất định; nhưng việc đả động này chủ yếu chỉ tập trung vào các tầng lớp trung lưu có giáo dục kiểu Anh, và không hề xâm nhập vào quần chúng.” Sử gia Judith Brown thì thẳng thắn hơn. Bà viết, Quốc Đại của năm 1915 không khác gì hơn là một “tổ chức vụng về” chủ yếu giới hạn ở các khu đô thị lớn và có ít cơ sở trong dân chúng; và trong thập kỷ tiếp theo, nhờ tài năng tổ chức của Gandhi, nó đã biến thành một “tổ chức mang tầm quốc gia và sở hữu lực lượng chiến đấu mạnh mẽ”.

Gandhi cũng tham gia những hoạt động khác, ông đã viết ra một bản hiến pháp mới nhằm thiết lập cơ cấu quản trị mang tính đại diện hơn cho Quốc Đại, và thay thế tiếng Anh bằng tiếng Hindi trong ngôn ngữ ngoại giao của đảng phái. Nó cũng giảm phí hội viên xuống đáng kể, và hồi năm 1939, nhà viết kịch, nhà văn và nhà quan sát Krishnalal Shridharani đã viết rằng “[ở Quốc Đại], người nghèo có cơ hội tham gia như người giàu”. Gandhi không ngừng di chuyển tới nhiều vùng khác nhau để mở mang các mối quan hệ, củng cố sự hỗ trợ cho các chương trình của ông, và xây dựng các cơ sở đảng ở địa phương. Đến năm 1922, đã có 213 Ủy ban Quốc Đại Quận, phần lớn các quận này nằm dưới sự quản lý trực tiếp của Anh. Shridharani ước tính rằng, vào năm 1930, cứ ba ngôi làng thì có một văn phòng Quốc hội. Khả năng gây quỹ xuất chúng của Gandhi đã tạo nên sự gia tăng vượt bậc này.

Trong một Ấn Độ không đồng nhất, đầy rẫy sự chia rẽ về tầng lớp, đẳng cấp, tôn giáo và địa lý, thì phần lớn các tổ chức đại diện cho các khu vực đều bị giới hạn và mang tính phe phái. Quốc Đại đã có những bước tiến quan trọng nhằm chống lại xu hướng này, thống nhất vùng nông thôn và thành thị, người có giáo dục và không có giáo dục, và kết nối các khu vực địa lý rộng lớn. Việc duy trì sự tham gia và củng cố cơ sở địa phương của đảng luôn là một thách thức, và cái niềm hy vọng của Gandhi về việc kết hợp người theo đạo Hindu và người Hồi Giáo thật sự rất ít khả năng thành công. Tuy nhiên, như Judith Brown đã viết, vào đầu những năm 1920, Quốc Đại đã tự thiết lập nó thành “một tổ chức duy nhất mà mọi tuyên bố thực tế đều là phát ngôn của quốc gia”.

Nguồn bài dịch: Gandhi’s strategy for success — use more than one strategy

Comments

comments