Chiến thuật “tố khổ” khiến mọi người sợ tham gia các hoạt động xã hội

Đây là bài viết hết sức thú vị mà các nhà hoạt động xã hội không thể bỏ qua. Bài viết bản tiếng Anh được thực hiện vào ngày 14/7/2012 vì vậy chúng tôi đã biên tập lược bỏ các câu hỏi liên quan đến các sự kiện không còn tính thời sự. Phần còn lại của bài phỏng vấn là những kiến thức giá trị về các yếu tố trong phong trào phi bạo lực và những sai lầm mà những nhà hoạt động thường mắc phải. 

Giáo sư Erica Chenoweth và Maria Stephan đã cho ra đời cuốn sách Vì sao Phản kháng dân sự lại có hiệu quả (Why Civil Resistance Works) – một tác phẩm thuộc loại “phải đọc” cho bất cứ ai quan tâm tới nguyên nhân dẫn tới thành công và thất bại của các phong trào này.

Nguồn ảnh: Internet

Thay vì dựa hoàn toàn vào các nghiên cứu tình huống và bằng chứng mang tính giai thoại để chứng tỏ sức mạnh và tiềm năng của hành động phi bạo lực, các tác giả đã liệt kê một cách hệ thống các chiến dịch phản kháng phi bạo lực kể từ đầu thế kỷ 20 – tất cả gồm 323 trường hợp – nhằm tìm hiểu sâu hơn về tính hiệu quả so sánh giữa các phương pháp đấu tranh rất đa dạng này. Sau khi cần mẫn thu thập dữ liệu và làm các phép tính, họ phát hiện ra một kết quả bất ngờ rằng: trong thế kỷ vừa qua, các chiến dịch phi bạo lực tỏ ra hiệu quả gần gấp đôi so với đấu tranh vũ trang.Kết quả nghiên cứu của Chenoweth và Stephan không chỉ được dựa trên cơ sở là nguồn dữ liệu phong phú, mà các tác giả còn đưa ra những phân tích tinh tế về nguyên nhân khiến đấu tranh phi bạo lực lại có mức độ hiệu quả cao như vậy. Mới đây, tôi có dịp trao đổi với giáo sư Erica Chenoweth – giảng dạy tại trường Nghiên Cứu Quốc Tế Josef Korbel thuộc ĐH Denver.

Đâu là những nhân tố chủ chốt tạo nên thành công của các chiến dịch phi bạo lực, và vì sao chị lại đánh giá cao về sức ảnh hưởng của những nhân tố đó như vậy?

Nhân tố chủ chốt tạo ra thành công của một phong trào chính là sức mạnh đến từ sự tham gia rộng khắp, đông đảo. Chúng tôi phát hiện ra rằng, các phong trào phi bạo lực có xu hướng thu hút được số lượng đông đảo người tham gia hơn nhiều so với các phong trào bạo lực. Điều này cho phép tạo ra hoặc khai thác được những rạn nứt bên trong những trụ đỡ quyền lực của chế độ (giới tinh hoa về kinh tế, giới kinh doanh, lực lượng an ninh, truyền thông nhà nước và giới viên chức nhà nước). Những rạn nứt này rất khó tạo ra được nếu không huy động được đông đảo những người dân thường không vũ khí, nhưng đồng lòng thể hiện một tinh thần quyết tâm, bất hợp tác với trật tự quyền lực đang hiện hữu và lại không có ý muốn gây thương tích cho những người mà họ chống đối. Thêm vào đó, thông qua nỗ lực để bắt những thế lực đang chống đối lại những đòi hỏi chính đáng của phong trào phải trả một cái giá đắt nào đó về kinh tế, chính trị và xã hội – phản kháng dân sự cũng là một hình thức chiến tranh tâm lý – và là hình thức khá hiệu quả để làm việc đó.

Có nhân tố nào mà giáo sư cho rằng các nhà hoạt động thường bỏ quên, mà chính điều đó lại có thể gây thiệt hại hoặc thậm chí là đưa những nỗ lực của họ vào chỗ thất bại không ?

Đôi khi tôi nghĩ các phong trào dựa quá nhiều vào chiến thuật “tố khổ” – họ dành quá nhiều thời gian kể lể về những bất công và đau khổ mà họ từng trải qua. Không khí trở nên rất nặng nề hoặc nghiêm trọng. Trong khi đó, cách làm này không truyền được năng lượng cho một đối tượng người nghe, vốn sợ hãi hoặc thờ ơ. Tất nhiên là sẽ có những thời điểm và không gian phù hợp để nói lại về những mối quan ngại chính yếu đó của phong trào và người dân nói chung. Nhưng thành công phụ thuộc rất nhiều vào việc huy động được số đông, nên tôi nghĩ nhiều phong trào sẽ gặp thuận lợi hơn nếu giữ được bầu không khí sáng sủa, vui nhộn và hài hước. Khi mình cổ vũ tâm lý hân hoan trước chiến thắng đang tới gần, thì như vậy vẫn tốt hơn so với việc khuyến khích một bầu không khí giận dữ hay ảm đạm, nặng nề.

Một vấn đề nữa mà tôi hay để ý đó là cái cảm nhận cho rằng phong trào cuối cùng sẽ thắng vì nó “đúng đắn” và “có chính nghĩa”hay đại loại thế. Nếu không tìm cách vận động được số đông quần chúng, làm rối loạn trật tự vận hành thông thường của chế độ và tước khỏi tay đối thủ các phương tiện nhằm duy trì hiện trạng, thì dù là với những phong trào với mục đích cao thượng, chính nghĩa nhất cũng sẽ “xịt” mà thôi. Khi đó thì người dân sẽ thất vọng cay đắng. Thực tế là, bản chất của phản kháng phi bạo lực là áp đặt, buộc đối thủ phải trả những cái giá nhất định, chứ không chỉ là ở nền tảng đạo đức, chính nghĩa.

Thứ ba, các phong trào có thể trở nên quá lệ thuộc vào một số phương pháp đặc thù, như biểu tình, tuần hành hoặc chiếm đóng – khiến người tham gia mệt mỏi hoặc gây phản cảm cho đại chúng, mà vẫn không thể gây rối loạn bộ máy vận hành của đối phương một cách hữu hiệu. Đôi khi, biểu tình lặp đi lặp lại khiến cho các nhà hoạt động càng dễ bị đàn áp. Hoặc là, biểu tình số lượng lớn có thể làm rối loạn nhịp sống thường nhật của dân cư, nhiều hơn là tác động vào đối thủ, vì thế gây bực dọc cho nhiều người mà lẽ ra có thể ủng hộ phong trào. Dù là ở trường hợp nào, thì hầu như không có vị tướng nào có thể thắng trận bằng cách ngày nào cũng dùng nguyên xi một chiến thuật vào đúng một khung giờ ấy. Các phong trào dành được chiến thắng thường có đặc điểm là kết hợp các chiến thuật theo một thứ tự nào đó, nhằm tăng được tối đa số người tham gia, và gây rối loạn bộ máy của đối phương, trong khi giảm thiểu được khả năng bị đàn áp cũng như tác động không mong muốn tới dân thường xung quanh.

Tiếp đó, trong mỗi lần diễn giảng, tôi đều gặp những người có thái độ hoài nghi, họ bảo là tình thế của họ quá khác biệt, tới mức đấu tranh phi bạo lực không thể có tác dụng (với hàm ý là: hoặc họ cần sử dụng đấu tranh vũ trang hoặc kết hợp cả bạo lực với phi bạo lực, hoặc (dù ít gặp hơn) cộng đồng quốc tế phải hành động thay cho họ, thì mới đánh bại được đối phương). Đồng ý là, con người có xu hướng tự nhiên là tìm kiếm, xác định những điểm khác biệt. Chính tôi cũng từng nghi ngờ sức mạnh của phản kháng dân sự. Nhưng vài năm vừa qua, tôi đã nhận ra là hầu hết các cuộc đấu tranh dân sự có nhiều điểm tương đồng hơn hẳn là những điểm khác biệt, nhất là về mặt chiến lược.

Có một số yếu tố then chốt đóng góp vào thành công của các chiến dịch phi bạo lực, và chúng tôi đã nêu ra trong cuốn sách. Trong đó, quan trọng không phải là đối thủ của phong trào là ai, có những hành động gì hay loại hình đấu tranh ra sao; mà là phong trào của mình đưa ra những lựa chọn nào về chiến lược. Hiển nhiên là còn tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể, nhưng đại đa số những phong trào thành công đều tìm ra cách để hài hòa được với các điều kiện tại chỗ, từ đó cho phép họ thách thức được những thế lực rất kiên cố, bất kể chúng thuộc dạng nào.

Trong cuốn sách, chị đã cho thấy cách thức mà các chiến dịch phi bạo lực ngày càng tỏ ra thành công trong những năm qua, đồng thời bạo lực ngày càng giảm tính hiệu quả. Có nguyên do nào để lý giải cho xu thế phát triển đó không ?

Tôi nghĩ có một vài tiến trình đang diễn ra ở đây. Không khó để nhận ra rằng, sự suy giảm tính hiệu quả của bạo lực có nguồn gốc từ chuyện các quốc gia và nhà nước ngày càng ít bảo trợ cho các cuộc nổi dậy bằng bạo lực, mà bản thân nó là thành tố của việc kết thúc Chiến tranh Lạnh. Mỹ và Liên Xô trước đây từng bảo trợ, cung cấp vũ khí hoặc tài chính cho các nhóm phiến quân, nổi dậy ở nhiều khu vực nhằm bảo vệ tầm ảnh hưởng và quyền lợi của họ. Ngày nay thì không còn động lực để tài trợ cho những việc như thế nữa.

Còn về sự gia tăng hiệu quả của đấu tranh phi bạo lực, tôi xin chỉ ra một số nguyên nhân. Đầu tiên là sự bùng nổ của tri thức mà giới hoạt động khắp thế giới tiếp cận được. Trong đấu tranh phi bạo lực, kỹ năng là yếu tố quan trọng, và suốt vài thập niên qua, hàng trăm tổ chức NGO toàn cầu đã tích cực giúp xây dựng kỹ năng, hỗ trợ về chiến lược và pháp lý cho những người đấu tranh thực địa ở khắp nơi. Tôi cho rằng điều này có một tác động tích cực tới kết quả của các chiến dịch phi bạo lực.

Thứ nữa là việc truyền thông quốc tế ngày càng chú ý đến các cuộc đấu tranh phi bạo lực, và tác động của công nghệ thông tin liên lạc đối với khả năng dập tắt, bưng bít thông tin về các cuộc đấu tranh đó. Mặc dù truyền thông chính thống vẫn rất ám ảnh về bạo lực, nhưng hoạt động kiểm duyệt không còn xóa bỏ được hoàn toàn việc đưa tin về các phong trào phi bạo lực, kể cả khi các chế độ độc tài cố bịt miệng truyền thông. Có một thực tế là, cộng đồng quốc tế khá chậm phản ứng và không tập trung lắm đối với các chiến dịch phi bạo lực. Sự chú ý của truyền thông chỉ đến khi phong trào đã bước vào giai đoạn vận động quần chúng – Tuy-ni-di năm 2010 là một ví dụ. Nhưng khi trao đổi với nhiều nhà hoạt động, tôi có cảm nhận là, việc thấy rằng thế giới đang dõi theo sẽ khiến họ cảm thấy bớt cô đơn. Nó khiến người ta bạo dạn hơn để nhập cuộc, và tạo cảm giác về sự đoàn kết, và rằng những người tranh đấu vì tự do và hòa bình có rất nhiều đồng minh đang chăm chú dõi theo. Điều này nhất định sẽ giúp thu hút nhiều người tham gia hơn vào phong trào, vì những yếu tố lớn nhất làm cản trở sự nhập cuộc, đó là sợ hãi, thờ ơ và cảm giác bị cô lập. Và ngày nay tiến bộ công nghệ về liên lạc và kết nối đang giúp xóa tan đi chinh cái cảm giác cô lập này.

Nghiên cứu của chị đã đem so sánh tính hiệu quả của các cuộc đấu tranh phi bạo lực, với đấu tranh bạo lực, vì các mục tiêu nhất định (chống chế độ, chống sự chiếm đóng và kế vị quyền lực). Gần đây, tôi rất quan tâm về vấn đề bình đẳng kinh tế. Dường như các phong trào phi bạo lực thường mở đường cho một chính quyền dân chủ hơn, nhưng không thay đổi được cục diện về quyền lực kinh tế trong nước mình. Tôi nghĩ tới những ví dụ như Ấn Độ, Phillipines, Nam Phi và ngay cả tại Mỹ, nơi mà hố ngăn cách về thu nhập và của cải giữa người da trắng và da đen hầu như không thu hẹp lại mấy kể từ thời phong trào dân quyền. Chị có thể đánh giá, dựa trên dữ liệu của mình, về mức độ hiệu quả của các phương pháp phi bạo lực đối với các mục tiêu liên quan đến bình đẳng kinh té, hoặc giải thích tại sao tiến bộ trên lĩnh vực này xem ra lại khó khăn đến vậy?

Tôi chưa nghiên cứu về ảnh hưởng của hành động phi bạo lực trong các vấn đề kinh tế, như là nạn bất bình đẳng hoặc các chỉ dấu khác. Một phần của vấn đề này là thiếu dữ liệu để nghiên cứu. Thực chất là, hầu hết các chính quyền đều không lưu trữ dữ liệu chính xác và đáng tin cậy về bất bình đẳng kinh tế! Tôi cũng định về sau sẽ nghiên cứu về vấn đề này nhiều hơn. Tuy nhiên, có nhiều ví dụ về các cuộc đấu tranh ở quy mô quốc gia và quốc tế mà trong đó đã khiến công luận, ở địa phương, ở trong nước và cả trên thế giới chú ý tới tình trạng bất bình đẳng này, và nhiều trường hợp trong số đó thậm chí còn tạo ra được tiến triển tích cực.  Có thể nói đến các cuộc đấu tranh của người lao động như của Liên đoàn các công nhân nông trại tại California, do Cesar Chavez lãnh đạo, các cuộc đấu tranh vì tiền lương và lao động tại Châu Âu và Mỹ Latinh, các sáng kiến chống tham nhũng tại Kenya, các chiến dịch chống tự do thương mại tại bang Seattle năm 1999 (và tại các phiên họp diễn ra sau đó của WTO), và các hành động chống lại các tập đoàn lớn tại Tây Papua và Nigeria. Tôi nghĩ phong trào Occupy//Chiếm Đóng (phố Wall) (tại Mỹ) cũng đã đưa được những vấn đề bất bình đẳng kinh tế tại Mỹ ra trước giới chính trị và dư luận – tự đó cũng đã là 1 thành tựu rồi. Và mặc dù chưa dành được thắng lợi hoàn toàn, nhưng nhiều thắng lợi nho nhỏ cũng đã đang thúc đẩy cho mục tiêu tổng thể. Chúng ta đừng nên trông đợi có thể thay thế lập tức được những hệ thống này, mà hãy nhận ra rằng người ta đã tạo được những bước tiến thực sự trong các lĩnh vực mà tưởng chừng như vô vọng và trong những hoàn cảnh mà họ từng cảm thấy bất lực.

Trong nhiều trường hợp, khi chế độ độc tài bị thay thế, nhưng chế độ dân chủ mới lên vẫn gặp phải các vấn đề về bất bình đẳng và nghèo đói. Theo chị thì tình trạng này nói lên điều gì về đấu tranh phi bạo lực? Và các nhà hoạt động có thể làm gì để đảm bảo rằng những thay đổi mà họ mang lại không chỉ là bề ngoài, mà phải thực sự có ý nghĩa và lâu bền?

Chúng ta đừng nên kỳ vọng quá nhiều và quá nhanh. Những thay đổi mà chúng ta đang nói tới, đòi hỏi những cảm kết thực sự trong dài hạn, có thể là phải vài thế hệ. Đồng nghiệp của tôi, Stephen Zunes, thường nói rằng nền dân chủ tự do là điều kiện cần, nhưng không phải là đủ để giải quyết tình trạng bất bình đẳng, và tôi đồng ý với ý kiến đó. Tuy nhiên, ngay cả khi mà đấu tranh phi bạo lực không hể đạt được thắng lợi toàn diện, thì thường vẫn sẽ có những sự dịch chuyển quan trọng mà ta không nên bỏ sót, kể cả khi chúng không được ở mức lý tưởng.

Hãy nhìn trường hợp của Ai Cập. Những ngày qua, có nhiều chuyện không hay đã diễn ra tại đó. Lúc đầu, tưởng chừng như cuộc cách mạng đã dành được một chiến thắng ngoạn mục, nhưng rồi tình hình nhanh chóng trở nên bế tắc. Nhưng tôi vẫn lạc quan, vì một nguyên nhân quan trọng: ngày nay, người dân Ai Cập có thể tự do phát biểu về quan điểm, về những nỗi khốn khổ của mình, và về những xung đột đang tiếp diễn. Họ vẫn kiên trì phơi bày những sự lạm dụng quyền lực và đòi hỏi phải có giải pháp công bằng. Ở một nơi mà chỉ mới 10 năm trước đây thôi, người ta không được quyền phát biểu công khai chống chế độ Mubarak, kể cả là nói với bạn bè, thì bây giờ người dân không còn sợ sệt nữa. Bất kể là họ đã có được một chính thể mang tính đại diện như mong muốn hay chưa, hay là nền kinh tế đã thực sự công bằng như biết bao người khao khát hay chưa, thì người dân nước này đã phá vỡ được cái rào cản của sợ hãi, thứ đã bắt họ phải im lặng trước những đau khổ, bất bình suốt bao năm. Điều đó đã cho tôi hy vọng.

Đôi khi có người nói rằng lý do duy nhất khiến các chiến dịch phi bạo lực có hiệu quả là vì các chế độ lo sợ về những gì sẽ xảy ra nếu như phong trào đấu tranh phát triển thành bạo lực. Chị thấy ý kiến đó thế nào?

Đó có thể là một giả thuyết lý thú, nhưng không có bằng chứng thực nghiệm nào mang tính hệ thống để làm cơ sở. Tôi cùng gs. Kurt Schock đang thực hiện một nghiên cứu cho thấy cái gọi là “những thành phần cực đoan”, một khi được thu nạp vào, hoặc tự liên kết vào với một phong trào phi bạo lực, thì họ không hề giúp tăng được khả năng thắng lợi của phong trào. Thực tế, những phái bạo lực kiểu đó có thể gây hại nhiều hơn, vì họ sẽ làm giảm mức độ tham gia nhập cuộc. Khi mà những người tham gia thấy rằng có những hành động bạo lực được phát động bởi (hoặc lấy danh nghĩa) bởi phong trào, thì nhiều người trong số họ sẽ bỏ cuộc.

Hơn nữa, về tổng thể, tôi nghĩ nhiều chế độ sẽ thích đương đầu với các phong trào bạo lực hơn là phi bạo lực. Các thành phần bạo lực trong nội bộ phong trào sẽ cho phép chính quyền biện hộ cho hành động đàn áp – chống lại cả những người biểu tình có hoặc không có vũ trang. Khi đó thì thường là chính quyền sẽ dành phần thắng, nhất là nếu như việc đàn áp của họ càng khiến cho nhiều người tham gia bỏ cuộc.

Một số người cho rằng đấu tranh phi bạo lực chỉ có tác dụng chống lại các nhà “độc tài mềm”, mà không thể chống được các chế độ thực sự tàn bạo, không từ một thủ đoạn nào để bảo vệ quyền lực, như ở Bắc Triều Tiên. Có người khác lại bảo, nó chỉ có tác dụng, hoặc có tác dụng tối ưu, nếu cuộc đấu tranh đó chống lại các chính quyền mà chịu một mức độ ảnh hưởng, chi phối nhất định của Mỹ, như ở Phillipines và Ai Cập. Chị nghĩ sao về những ý kiến đó?

Tôi đồng ý rằng phản kháng phi bạo lực có thể không hiệu quả để chống lại một số chế độ thực sự toàn trị. Nhưng trong hoàn cảnh đó thì nổi dậy bằng bạo lực cũng chẳng đem lại kết quả khá hơn đâu.

Còn trong trường hợp thứ 2 mà bạn nói, thì rõ ràng là việc bị mất đi chỗ chống lưng từ một cường quốc là đồng minh, sẽ gây tác động lớn đến chế độ. Nhưng những cường quốc đồng minh đó đâu phải bỗng nhiên mà rút bỏ sự ủng hộ cho các chế độ độc tài, nếu không phải do có sức ép phi bạo lực mạnh mẽ theo chiều từ dưới lên. Hơn nữa, các phong trào đấu thường phải tìm ra cách để dành chiến thắng mà không phụ thuộc vào việc chế độ bị mất đi chỗ dựa từ ngoại bang. Một ví dụ là trong cuộc cách mạng 1979 tại Iran, khi vua Shah, dù có một chỗ dựa vững chắc và vô điều kiện là Mỹ, nhưng vẫn bị phế truất. Ở những nơi khác như Phillipines (thời Marcos), Ai Cập (thời Mubarak) và Yemen (thời Saleh), Mỹ đã chỉ rút bỏ sự ủng hộ khi mà thời thế đã rõ ràng là các chế độ này không thể trụ được. Thế thì, đây chắc chắn không phải điều kiện cần để thắng lợi.

Chị đã gặp những tình huống đặc thù nào mà trong đó, đấu tranh phi bạo lực không hề phát huy tác dụng chưa ?

Cơ hội thành công của các phong trào đòi ly khai là tương đối thấp. Các phong trào đấu tranh vũ trang nhằm mục đích này cũng không khá hơn gì. Các tài liệu nghiên cứu đã tổng kết rằng, những phong trào như thế rất khó dành được thắng lợi. Bởi vì nó còn tùy thuộc những yếu tố khách quan như sự can dự của cộng đồng quốc tế, và rõ ràng là rất khó dùng phản kháng phi bạo lực để đương đầu với một chế độ thực sự mang tính chất diệt chủng (mà khởi nghĩa vũ trang thì cũng thế thôi). Tuy nhiên, ngay cả trong các trường hợp đó, mình vẫn có thể tước đoạt hoặc không trao cho chế độ những phương tiện để thi hành chính sách diệt chủng, bởi vì để hiện thực hóa chính sách đó, cần phải có người sẵn sàng thi hành. Còn ngoài ra thì, khó mà xác định được một bối cảnh hoặc điều kiện nào mang tính hệ thống khiến cho phản kháng phi bạo lực là bất khả thi.

Chị có thể chia sẻ những khám phá của mình về khả năng mà một chính quyền dân chủ có thể xuất hiện hoặc là nội chiến sẽ bùng nổ theo sau các phong trào bạo lực hoặc phi bạo lực?

Chúng tôi thấy là các quốc gia đã trải qua phản kháng phi bạo lực thường sẽ có dân chủ trong vòng 5 năm sau khi xung đột kết thúc (cơ hội là hơn 40%, kể cả khi xét đến mức độ dân chủ đã có trước khi xảy ra xung đột), so với các quốc gia trải qua đấu tranh vũ trang (chưa tới 5%). Chúng tôi cũng phát hiện ra rằng các quốc gia mà sử dụng phản kháng phi bạo lực có xác xuất 28% rơi trở lại nội chiến trong vòng 10 năm, so với tỉ lệ 43% của các quốc gia dùng đấu tranh vũ trang. Mặc dù có ngoại lệ, nhưng những kết quả thống kế đó cho thấy, các quốc gia chọn đấu tranh phi bạo lực sẽ có nhiều khả năng đạt được dân chủ và hòa bình sau đó, và các quốc gia chọn giải pháp bạo lực thì dễ tái diễn cảnh bất ổn và độc tài. Điều đáng lưu ý là, những tác động tích cực này sẽ bị suy giảm nếu trong phong trào phi bạo lực có tồn tại một phe cánh vũ trang).

Kết quả nghiên cứu của chị có liên hệ thế nào tới phong trào Chiếm Phố Wall (tại Mỹ)?

Mặc dù trong bộ tài liệu nghiên cứu của tôi không bao gồm các phong trào như kiểu Chiếm phố Wall, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng cùng những nguyên lý đã nêu. Các nhà nghiên cứu, học giả khác đã viết rất nhiều về cách thức để tước đoạt các phương tiện bóc lột khỏi tay của những tập đoàn lợi ích nhóm, tham nhũng. Thách thức chủ yếu là ở chỗ xác định ra đâu là những trụ đỡ quyền lực mà một hệ thống mang tính chất bóc lột phải dựa vào để tồn tại, và tạo ra đủ áp lực lên các trụ đỡ đó để thay đổi tình thế.

Cụ thể hơn, chị nghĩ sao về mô hình tổ chức phong trào theo kiểu vô chính phủ, không có lãnh đạo và chỉ là kết hợp đơn thuần của những người chung mục đích?

Tôi nghĩ nhiều phong trào đang quá đề cao giá trị của cách tổ chức “không cần có lãnh đạo” –điều nguy hiểm cho sự tồn tại của bản thân phong trào. Mặc dù mô hình này có thể thỏa mãn được những xung lực, hưng phấn nhất thời, cho những người có ác cảm với vấn đề “thẩm quyền, lãnh đạo, thứ bậc”, nhưng nó có rất nhiều bất lợi về mặt chiến lược, hơn là ưu thế mà nó đem lại. Đó là một cơ cấu tổ chức kém hiệu quả đối với nhu cầu phát triển và thực hiện chiến lược, và khuyến khích một ý thức kỷ luật giữa các thành viên. Tôi không có ý nói là mọi phong trào đều cần có một lãnh tụ đầy uy tín, nhưng muốn hiệu quả thì nhất định phải có một hình thức lãnh đạo nào đó.

Và chị nhìn nhận ra sao về các chiến thuật “black bloc” (huy động các phần tử mặc áo đen, đeo mặt nạ) và tình trạng một số người trong phong trào sẵn sàng đập phá tài sản và đối đầu với cảnh sát?

Về mặt chiến lược, tôi nghĩ những hành động như vậy gây vấn đề rất nghiêm trọng cho phong trào Occupy nói chung (cá nhân tôi biết rất rõ về vụ ở Oakland). Đầu tiên, những hành vi kiểu đó khiến rất nhiều người mà lẽ có thể nhập cuộc thì nay họ tránh xa, nhất là người già, người khuyết tật, những người mà dù rất ủng hộ phong trào nhưng họ tuyệt đối tránh xa chuyện xô xát trên đường phố hay đập phá tài sản. Như Stephen Zunes đã nói, cái quan trọng nhất trong việc xây dựng một đội ngũ gắn bó, cam kết là mức độ đa dạng của các thành phần tham gia phong trào, chứ không phải đa dạng về chiến thuật được sử dụng. Thứ hai, sự xuất hiện của nhóm người mặc áo đen, bịt mặt đã tạo ra những tranh luận lan man trong nội bộ, chủ yếu là về việc liệu những hành động như thế có chính đáng hay được phép hay không, có thực sự là phi bạo lực không, và có giúp đạt được mục đích tối thượng của phong trào không. Thực ra, tôi nghĩ bản thân cuộc tranh cãi đó đã làm phong trào mất đi một lượng lớn thành viên nhiệt tình, bởi vì họ quá mệt mỏi khi chứng kiến những cuộc thảo luận bất tận, vòng vo, mà phía nào cũng có lý cả.

Trong khi đó thì điểm quan trọng nhất lại bị bỏ sót, đó là: các chiến thuật đang được sử dụng làm tăng hay giảm mức độ tham gia vào phong trào? Còn về câu hỏi “chiến thuật “black bloc” (sử dụng những người mặc đồ đen, bịt mặt) là có chính đáng hoặc cần thiết không?” thì mình dễ thấy rằng: còn tùy xem việc đó có làm tăng lượng tham gia không. Cho đến nay, chiến thuật này đang khiến người ta tránh xa khỏi phong trào, cho nên từ góc độ chiến lược, tôi cho là nó vừa không cần thiết, vừa không hiệu quả. Lưu ý rằng ở góc nhìn đó, thì câu hỏi “các chiến thuật “black bloc”là bạo lực hay phi bạo lực” trở nên không còn quá quan trọng, vì nó chủ yếu là vấn đề học thuật, và không ảnh hưởng gì mấy tới vấn đề chính tại thực địa. Phong trào có thể nghĩ cái này cái kia là bạo lực hay phi bạo lực, nhưng chuyện đó đâu quan trọng. Quan trọng là quần chúng, những người dân bình thường, họ đánh giá ra sao, có xứng đáng với thời gian họ bỏ ra để nhập cuộc hay không. Nhân đây tôi xin nói thêm là ở Mỹ bây giờ, phần đông đều coi hành động đập phá tài sản là bạo lực. Mà việc nó là bạo lực hay phi bạo lực không phải điều quan trọng ở đây. Quan trọng là những chiến dịch phi bạo lực hoàn toàn, nhưng yếu kém ở khâu lên kế hoạch, thì cũng vẫn làm sụt giảm lượng người tham gia y như vậy. Tất cả những gì mà một phong trào cần làm là nhìn xem số lượng người tham gia đang tăng hay giảm, để xác định những biện pháp, chiến thuật hành động nào cần được tăng cường hay loại bỏ.

Ngoài ra, có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy, sẽ có nhiều người sẽ tham gia hơn khi có nhiều các hành động phi bạo lực được tổ chức một cách thực sự khôn khéo, so với trường hợp các hành động bạo lực cũng được tổ chức khôn khéo!

Bước tiếp theo của chị là gì? Chị thấy đâu là mảng hoặc công trình nghiên cứu lý thú hoặc hứa hẹn nhất hiện nay trong lĩnh vực đấu tranh phi bạo lực?

Tôi đang thực hiện dở một vài dự án thu thập dữ liệu đồ sộ về phản kháng dân sự, trong đó có cập nhật và tìm kiếm thêm thông tin về mỗi một trường hợp, và tập hợp dữ liệu về việc sắp xếp thứ tự các chiến thuật đấu tranh. Hy vọng là trong mấy năm tới có thể thực hiện phân tích những dữ liệu đó. Tôi đang rất quan tâm hơn về các chiến dịch phi bạo lực diễn ra tại những vùng chiến sự, như Syria, Afghanistan, Yemen, các vùng lãnh thổ Palestine và Li-băng, cũng như các chiến dịch chống lại các chính quyền và tổ chức tội phạm lớn, như trường hợp các ngôi làng hòa bình tại Colombia và cuộc chiến chống ma túy mang tên Phong trào vì Hòa bình với Công lý và Nhân phẩm tại Mexico. Thì ra, người dân khắp nơi vẫn tiếp tục sáng tạo ra cách thức chống lại bạo lực và khủng bố, kể cả khi mà nhà nước không phải là thủ phạm duy nhất, mặc dù đây là loại hình đấu tranh đặc biệt khó khăn. Nhưng trên hết, tôi mong muốn truyền được cảm hứng cho những người khác đi theo hướng nghiên cứu về phản kháng phi bạo lực, sao cho lĩnh vực này càng có nhiều công trình nghiên cứu đồ sộ hơn. Với những gì đã thấy, tôi tin rằng những nghiên cứu như vậy là cực kỳ đáng giá, so với công sức người ta bỏ ra. Và phản kháng phi bạo lực chính là một loại hình đấu tranh đầy tiềm năng, sẽ định hình các cuộc xung đột trong thời đại của chúng ta.

Người thực hiện: Eric Stoner   

 

Comments

comments