Hiều về tự do biểu đạt căn bản: (Phần 1) Tự do biểu đạt là gì?

Nguồn ảnh: http://malawi.misa.org

Tại Việt Nam, Tự do ngôn luận (Freedom of speech) được sử dụng với nghĩa tương đương với Tự do biểu đạt (Freedom of expression) để chỉ quyền trình bày ý kiến của một người mà không phải đối mặt với nỗi sợ bị trả thù hoặc kiểm duyệt của chính quyền. Ở đây chúng ta hiểu rằng biểu đạt chỉ rất nhiều các hoạt động khác nhau như: Nói, viết, hát, biểu diễn, hô hào trên đường, quảng cáo, thậm chí là hăm dọa, nói xấu…

Trong Tuyên ngôn quốc tế Nhân Quyền thì tự do biểu đạt được hiểu là: “Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia”.

Điều 23 trong tuyên bố về Nhân Quyền ASEAN tuyên bố: “Mọi cá nhân có quyền tự do biểu đạt, bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị cản trở; quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin bằng nói, viết hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông khác mà người đó lựa chọn”.

Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights, viết tắt: ICCPR) là một công ước quốc tế do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966 và có hiệu lực từ ngày 23 tháng 03 năm 1976, nêu tổng quan các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con người. Cụ thể, các bên tham gia ký kết sẽ phải tôn trọng các quyền dân sự và chính trị của từng cá nhân, bao gồm quyền sống, quyền tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do hội họp, quyền bầu cử và quyền được xét xử bình đẳng và theo đúng trình tự pháp luật.

Theo Điều 19 quy định: 

1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp.

2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ.

3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để:

a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác,

b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội.

Như vậy, quyền tự do biểu đạt bao gồm:

  • Quyền được giữ ý kiến mà không bị xâm phạm

  • Quyền tự do tìm kiếm thông tin

  • Quyền tiếp nhận thông tin

  • Quyền phổ biến thông tin và tư tưởng

Các hình thức biểu đạt bao gồm tất cả các hình thức biểu hiện và các phương tiện của việc phổ biến biểu đạt. Nó bao gồm nói, viết, ngôn ngữ ký hiệu, biểu hiện phi ngôn ngữ như hình ảnh và nghệ thuật khách quan. Nó bao gồm sách, báo, tờ rơi, áp phích, biểu ngữ, trang phục, và lời biện hộ pháp lý. Nó bao gồm tất cả các hình thức nghe nhìn: đài, tivi hoặc trên mạng internet. Nó bao gồm các bài diễn thuyết chính trị, bình luận về các vấn đề công cộng, vận động bầu cử, thảo luận về nhân quyền, báo chí, biểu hiện văn hoá và nghệ thuật, giảng dạy, thuyết giảng tôn giáo, quảng cáo thương mại, và thậm chí bao gồm, như chúng ta đã thấy ở nhiều nơi và nhiều xã hội- các biểu hiện xúc phạm.

Trong thực tế, nhiều chính quyền thường lạm dụng việc giới hạn các quyền tự do biểu đạt và tự do thông tin. Để hạn chế sự lạm dụng tùy tiện như vậy, Liên Hợp quốc và các tổ chức bảo vệ nhân quyền đã thông qua một số văn kiện để xác định nội hàm của các khái niệm nêu trên.

Bình luận chung số 34

Ủy ban Nhân quyền đã thông qua Bình luận chung số 10 tại phiên họp lần thứ 19 năm 1983 để hướng dẫn về cách hiểu của điều 19. Gần đây nhất những nội dung của điều 19 đã được hướng dẫn cụ thể tại Bình luận chung số 34 tại kỳ họp thứ 102 của Ủy ban, khẳng định tự do biểu đạt phải chịu những hạn chế nhất định (Bình luận chung số 34 này thay thế bình luận chung số 10 trước đây). Theo đó:

“Việc thực hiện những quyền quy định tại mục 2 của Điều này (quyền tự do biểu đạt), kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể là đối tượng chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để: a) nhằm tôn trọng quyền hoặc uy tín của người khác; b) nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng.”

Giải thích về giới hạn quyền tự do biểu đạt “được luật pháp quy định”, Ủy ban Nhân quyền (cơ quan giám sát thực thi Công ước này) đưa ra điều kiện cụ thể và chỉ dưới những điều kiện này mới có thể áp dụng các hạn chế:

  • Các hạn chế này phải được luật pháp quy định và luật này phải được xác lập với độ chính xác thích đáng để căn cứ vào đó cá nhân có thể điều chỉnh hành vi của mình

  • Chỉ được áp dụng các hạn chế dựa trên những lý do đưa ra trong mục (a) và (b) của khoản 3

  • Và những hạn chế này phải tuân thủ những kiểm chứng nghiêm ngặt về tính cần thiết và mức độ tương xứng.

Dưới đây là phần giải thích về “An ninh quốc gia” thường được rất nhiều quốc gia lạm dụng để hạn chết tự do biểu đạt:

Các nguyên tắc Siracusa về Giới hạn và đình chỉ các điều khoản trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1984 (Bản dịch theo sách: Giới thiệu công ước về các quyền dân sự và chính trị, Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội)

29. An ninh quốc gia có thể được viện dẫn để biện minh cho các biện pháp giới hạn một số quyền chỉ khi chúng được thực hiện để bảo vệ sự tồn tại của quốc gia hay toàn vẹn lãnh thổ của nó hoặc độc lập chính trị chống lại việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực.

30. An ninh quốc gia không thể được viện dẫn như là một lý do để áp đặt những giới hạn để ngăn chặn những mối đe dọa đến pháp luật và trật tự trong phạm vi địa phương hoặc tương đối hạn hẹp.

31. An ninh quốc gia không thể được sử dụng như là một lý do để áp đặt những giới hạn mơ hồ hay tùy tiện và chỉ có thể được viện dẫn khi có biện pháp bảo vệ đầy đủ và có biện pháp khắc phục có hiệu quả chống sự lạm dụng.

32. Các hành vi vi phạm có hệ thống các quyền con người làm tổn hại an ninh quốc gia thật sự và có thể gây nguy hiểm cho hòa bình và an ninh quốc tế. Một nhà nước chịu trách nhiệm về hành vi đó không được viện dẫn an ninh quốc gia như là một sự biện hộ cho các biện pháp nhằm trấn áp sự phản đối vi phạm như vậy hoặc bằng những hành vi đàn áp chống lại dân chúng. 

Các nguyên tắc Johannesburg về An ninh quốc gia, tự do biểu đạt và tiếp cận thông tin năm 1995 (Bản dịch theo sách: Giáo trình lý luận pháp luật về quyền con người, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội)

Nguyên tắc 2: Lợi ích an ninh quốc gia chính đáng

  1. a) Một hạn chế được biện minh với lý do an ninh quốc gia là không chính đáng trừ khi mục đích thực chất và hiệu quả có thể thấy được là để bảo vệ sự tồn tại của một quốc gia hay toàn vẹn lãnh thổ chống lại việc sử dụng hoặc đe dọa vũ lực, hoặc khả năng đáp ứng đối với việc sử dụng hoặc đe dọa vũ lực, cho dù từ một nguồn bên ngoài, chẳng hạn như một mối đe dọa quân sự, hoặc từ một nguồn bên trong, chẳng hạn như sự kích động bạo lực lật đổ chính phủ.

  2. b) Đặc biệt, một hạn chế được biện minh với lý do an ninh quốc gia là không chính đáng nếu mục đích thực chất hoặc hiệu quả có thể thấy được là để bảo vệ lợi ích không liên quan đến an ninh quốc gia, bao gồm, ví dụ, để bảo vệ một chính phủ khỏi xấu hổ hay khỏi phô bày những hành động sai lầm, hoặc để che giấu thông tin về hoạt động của các cơ quan công quyền của nó, hoặc bảo vệ một ý thức hệ cụ thể, hoặc để ngăn chặn tình trạng bất ổn công nghiệp

Tự do biểu đạt được quy định trong các văn bản pháp lý nhằm bảo vệ công dân khỏi khả năng đàn áp, độc tài và toàn trị từ chính phủ nhân danh pháp luật, chứ không phải nhằm bảo vệ tất cả các trường hợp trong mối quan hệ dân sự tư nhân bình đẳng hay các trừng phạt về xã hội.

Trong thực tế, không có quốc gia nào có quyền tự do biểu đạt tuyệt đối. Các chính phủ thường sử dụng pháp luật để hạn chế một số hành động biểu đạt có tính chất thù ghét nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự công cộng. Các điều luật khác về các tội phỉ báng hoặc vu khống trong quan hệ dân sự cũng là ý chí của chính quyền trong việc cho phép/không cho phép một hành vi trong giới hạn của tự do biểu đạt.

Bằng việc ký một công ước, một quốc gia thừa nhận các nguyên tắc của công ước đó; việc phê chuẩn một công ước là cam kết pháp lý thực thi công ước đó.

Khi một quốc gia tham gia phê chuẩn các công ước hoặc tuyên bố quốc tế, họ có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo thực thi những quyền được ghi nhận trong công ước cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ và thuộc thẩm quyền quốc gia.

Việt Nam kí và phê chuẩn Công ước Quyền Dân sự và Chính trị vào ngày 24/9/1982.

Nguồn tham khảo của bài viết

Sách Freedom of Speech (2007), tác giả Eric Barendt

Tài liệu về Tự do ngôn luận của American bar Association

Tự do ngôn luận  

Nguồn ảnh bìa: 

Homepage

Comments

comments