Không phải các cuộc biểu tình, mà là các chiến dịch, mới làm nên chuyện

Tác giả: George Lakey | Dịch giả: Vi Yên

Sau cuộc bầu cử này, bất kể ai thắng thì cũng luôn có nhiều thứ để biểu tình phản đối. Đây chính là thời điểm để tìm cách khuếch trương sức mạnh của chúng ta và gia tăng tối đa cơ hội chiến thắng.

Để làm được điều này, chúng ta có thể bắt đầu bằng cách bớt tiêu tốn năng lượng cho các cuộc biểu tình, mít-tinh và tuần hành theo kiểu “phát một”. Khi nhìn lại những cuộc biểu tình dạng này mà tôi đã tham gia suốt những năm qua, tôi không nhớ ra lấy một cuộc nào tạo ra được chút gì thay đổi. Thất bại lớn nhất chính là cuộc biểu tình quy mô nhất trong lịch sử, diễn ra vào tháng 2 năm 2003. Tôi đã hòa chung với hàng triệu người trên khắp thế giới trong đêm trước cuộc chiến tranh Iraq của tổng thống George W. Bush. Tờ New York Times đã giật một cái tít rất lớn về cuộc biểu tình của chúng tôi, nhưng rồi ông Bush chỉ cần chờ cho tới khi cuộc biểu tình chấm dứt, rồi mọi chuyện vẫn đâu lại vào đó.

Tờ Times nói rằng cuộc biểu tình là biểu hiện của một “siêu cường thứ hai ở quy mô toàn cầu”, nhưng lần này họ đã sai. Các cuộc biểu tình ”phát một” chỉ có tác dụng để xả giận, chứ không vận dụng và áp đặt được sức mạnh. Tôi đã nhận ra rằng, ngay cả ở thời điểm đó, cuộc biểu tình này sẽ khó lòng ngăn chặn Tổng thống Bush phát động chiến tranh, bởi đội ngũ lãnh đạo của cuộc biểu tình đã không hề cho chúng tôi biết phải làm gì tiếp theo, và rồi chúng tôi sẽ tiến triển kiểu gì.

Bush đã có kế hoạch để kiên trì hành động. Còn chúng tôi thì không. Phong trào đòi hòa bình chưa bao giờ vực dậy được trong những năm kế tiếp, ngay cả khi đa số người Mỹ có thái độ phản đối cuộc chiến một cách khá nhất quán. Ấy là bởi lựa chọn tồi dở về chiến lược khi trong việc tổ chức biểu tình theo kiểu một lần, nên dẫn tới sự chán nản và trì trệ sau đó.

Đâu là phương pháp thay thế?

Để xây dựng được loại sức mạnh có thể tạo ra thay đổi, bạn cần phải có một chiến dịch hành động trực tiếp, thứ có thể nối kết một loạt các hành động thành một chuỗi leo thang liên tiếp. Trong nửa thế kỷ qua, hàng triệu người Mỹ đã tham gia vào những chiến dịch như: tẩy chay xe buýt và tọa kháng trước quán ăn trưa (để phản đối nạn phân biệt chủng tộc), chiến đấu vì 15 đôla một giờ (tăng lương tối thiểu), Liên hiệp Nông dân Đoàn kết, các chiến dịch vận động trong trường học về chế độ phân biệt chủng tộc tại Nam Phi và về việc rút đầu tư khỏi các tập đoàn khai thác nhiên liệu hóa thạch, đình công chống lại các tập đoàn, cản trở việc khai thác than đá trên núi, ngăn chặn kế hoạch xâm chiếm Nicaragua của Mỹ, ngăn ngừa việc hoàn thành đường ống dẫn dầu Keystone XL. Mặc dù vậy, hầu hết người Mỹ vẫn không hiểu sự khác biệt giữa một cuộc biểu tình và một chiến dịch.

Một chiến dịch thường sẽ đặt ra một yêu sách và tập trung vào một mục tiêu/đối tượng cụ thể để có thể đạt được yêu sách đó: đó có thể là chuỗi nhà hàng Taco Bell, ban quản lý một trường đại học, một ngân hàng, thành phố Montgomery, tiểu bang Alabama, hay là nhánh hành pháp của chính phủ liên bang. Việc của chúng ta là lựa chọn mục tiêu, cũng như cách thức xây dựng vấn đề và yêu sách.

“Power Local Green Jobs,” một chiến dịch đang mà nhóm Earth Quaker Action Team (hay còn gọi là EQAT) đang chạy, đã định hình vấn đề theo khía cạnh công bằng về chủng tộc và kinh tế, cũng như về các nhiên liệu hóa thạch. Đối tượng mà EQAT đang nhắm tới một công ty điện lực tại địa phương, thuộc sở hữu của tập đoàn năng lượng quốc gia Exelon. Yêu sách được đặt ra là về công ty điện lực này phải tăng tỉ lệ sản xuất năng lượng mặt trời  từ ít hơn 2% như hiện nay tăng lên đến 20% trong 10 năm tới.

Cách EQAT lựa chọn yêu sách là minh họa cho cách thức mà các chiến dịch vận hành: các nhà vận động thường đòi hỏi một điều gì đó khó khăn, song có khả năng giành chiến thắng. Ngay trong chiến dịch đầu tiên của mình, EQAT đã có bước đi rất táo bạo, không tuân theo các thông lệ. Họ đã tập trung “đánh” vào ngân hàng lớn thứ bảy tại Mỹ, đòi hỏi ngân hàng này phải dừng cung cấp tài chính cho việc khai thác than trên đỉnh núi ở Appalachia. EQAT đã thành công, và điều này tạo ra thế đứng thuận lợi cho nhóm để ra một yêu sách lớn hơn đối với PECO (một công ty con của tập đoàn Exelon) – mục tiêu trong chiến dịch hiện tại của EQAT.

Các chiến dịch xây dựng nên phong trào

Có thể chúng ta hy vọng rằng cuộc biểu tình vì hòa bình lớn nhất trong lịch sử khi đó sẽ tạo nên một phong trào vô cùng mạnh mẽ, nhưng điều này đã không xảy ra. Các cuộc biểu tình hoành tráng theo kiểu một lần, dù được  truyền thông tốt tới mức nào, cũng hiếm khi tạo ra những phong trào mà giành được những chiến thắng cụ thể. Một cuộc biểu tình như vậy thường là rỗng về mặt tổ chức, không bền vững, và chẳng nhằm nhò gì với giới chóp bu kinh tế, trong khi đó, điều mà giới này lo sợ nhất lại là khi chúng ta có sức mạnh để kéo dài sự phản kháng một cách bền bỉ.

Chiến dịch là thứ rất khác so với biểu tình, vì chúng được xây dựng để có thể trụ vững và tiến triển, leo thang. Bốn sinh viên tại Greensboro – những người nhóm lên phong trào tọa kháng đòi quyền dân sự vào ngày 1 tháng 2 năm 1960 – đã không hề lên kế hoạch cho hành động dũng cảm của họ chỉ như một cuộc biểu tình ”một lần rồi thôi”; họ hiểu rõ rằng không thể xóa bỏ sự phân biệt và ngăn cách chủng tộc tại quán ăn trưa đó mà không liên tục quay lại đó, mặc cho họ có bị bắt giữ hay bị đánh đập đến mức nào. Hơn thế nữa, họ là những sinh viên da đen, vốn biết rõ rằng người da đen luôn phải chịu rủi ro về hậu quả cao hơn khi thực hiện hành động bất tuân dân sự.

Mỗi chiến dịch về các quyền dân sự đều có mục tiêu của nó: một cửa hàng hoặc nhà hàng ăn hoặc hội đồng nhà trường hoặc công ty xe buýt. Như Viện hàn lâm Midwest đã chỉ ra, mục tiêu là thứ mà có thể nói “có”, tức là chấp thuận hoặc nhượng bộ trước yêu sách của chúng ta. Khi một chiến dịch truyền cảm hứng cho các chiến dịch khác, sức mạnh tổng hợp của chúng sẽ trở thành một phong trào. Ngày nay chúng ta thấy hiện tượng tương tự: Một nhóm các chiến dịch liên quan đến một chủ đề sẽ trở thành một phong trào, như cuộc đấu tranh về tiền lương hoặc chống lại các đường ống dẫn dầu khí.

Một lý do khiến cho các nhà quan sát tự hỏi rằng liệu các nhà hoạt động của phong trào Black Lives Matter có sức mạnh bền bỉ hay chăng, là bởi vì hiện vẫn không rõ có bao nhiêu cuộc biểu tình tại chỗ để phản đối các vụ sát hại thanh niên da đen của cảnh sát đang được biến đổi thành các chiến dịch thật sự, với các đặc điểm như: có những yêu sách khả thi,  đối tượng bị nhắm tới có thể đáp ứng những yêu sách này, có một chiến lược để tăng trưởng và gia tăng hành động. Nếu không có sự chuyển hóa ấy, thì chẳng có lý do gì để trông đợi vào sự gia tăng công lý. Sự ngược đãi có hệ thống của giới cảnh sát, vốn bắt nguồn từ thứ văn hóa không bị trừng phạt, nên chúng chẳng hề hấn gì trước những hành vi biểu hiện sự phẫn nộ đơn thuần; và phải có sức mạnh bền bỉ mới có thể áp đặt được một thay đổi thực sự.

Phong trào có thể giành chiến thắng ngay cả khi một số chiến dịch riêng lẻ thất bại

Cộng tác viên Will Lawrence của trang Waging Nonviolence đã cảm thấy khích lệ khi ông phân tích các phong trào của thường dân hồi những năm 1970, những phong trào đã chặn đứng kế hoạch 1% nhằm xây dựng một ngàn nhà máy điện hạt nhân ở Mỹ. Một số chiến dịch lớn và được phổ biến rộng rãi đã thất bại trong mục đích ngăn chặn việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân cụ thể, nhưng dù vậy phong trào vẫn dành thắng lợi tổng thể. Tình hình thắng lợi và thất bại của các chiến dịch cũng diễn ra tương tự đối với phong trào quyền dân sự và phong trào thúc đẩy loại bỏ chế độ Apartheid tại Nam Phi – và cả hai phong trào đều tạo được thành công lớn về mặt tổng thể. Cũng giống như trong các cuộc chiến tranh quân sự, người ta có thể thua vài trận đánh, nhưng lại thắng cả cuộc chiến.

Các nhà hoạt động chiến dịch trong một phong trào thường hiểu điều này. Họ nhận ra rằng, dù họ không thể kiểm soát được chuyện có thể  giành chiến thắng trong chiến dịch của chính họ hay không, thì những nỗ lực lớn ở tại chỗ của họ cũng sẽ góp phần vào mục tiêu chung của cả phong trào. Hiểu được như thế sẽ giúp xây dựng nên sức mạnh cho toàn phong trào, vì nó sẽ động viên người ta gia tăng nỗ lực và hoạch định chiến lược thông minh hơn.

Tuy chưa thể chứng minh điều này, nhưng tôi tin rằng xu thế này cũng làm cho một phong trào có được nhiều hơn những nhà hoạt động lão luyện và kiên định trong dài hạn. Việc rút ra khỏi cuộc đấu tranh tổng thể cho sự thay đổi thường xảy ra khi một phong trào cụ thể hoàn tất, đạt được mục đích của nó. Nhiều người tham gia vẫn tiếp tục bám trụ, ít nhất là trong một khoảng thời gian. Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh lâu dài cho công lý và hòa bình lại cần đến những người theo đuổi sự nghiệp của một nhà hoạt động và tham gia vào một chiến dịch mới, và đóng góp vào đó những kỹ năng và kinh nghiệm mà họ có được từ các chiến dịch trước.  Làm sao để phát triển được những con người như vậy ? Thật khó để trả lời chính xác, song tôi tin rằng nó có nhiều khả năng hơn hẳn để phát triển trong một chiến dịch, so một chuỗi các cuộc biểu tình rời rạc, phát một.

Tại sao các chiến dịch lại có tác dụng cao như vậy trong việc tôi luyện các nhà hoạt động?

Các chiến dịch giúp chúng ta có được phản hồi về cách thức làm việc. Khó có thể đo lường tác động của các cuộc biểu tình phát một, và điều này khiến chúng ta khó nhận ra được rằng chúng ta nên cải thiện như thế nào cho để thực hiện những bước tiếp theo.

Các chiến dịch thường mang tính chất tiếp diễn và do đó chúng khích lệ những người tham gia vào các vai trò mà chiến lược gia Bill Moyer gọi là “bốn vai trò căn bản để thay đổi xã hội”. Các nhà tổ chức (organizer) bị thu hút bởi họ nhìn thấy tiềm năng phát triển thêm về số lượng. Các nhà xây dựng cộng đồng (community-builder)/ Các nhà hỗ trợ (helper) bị thu hút vì họ nhìn thấy một nhu cầu hỗ trợ lẫn nhau để tạo ra các nhà hoạt động bền vững. Những nhà vận động (advocate) bị thu hút vì họ nhìn thấy cơ hội được tương tác với những người có tầm ảnh hưởng và những người ra quyết định chính sách, theo cách thức có thể giúp cho những người thực hiện chiến dịch tác động được vào những điểm mà lẽ ra họ có thể bỏ sót. Và những người nổi loạn(rebel) bị thu hút, bởi vì một chiến dịch hành động trực tiếp cần đến những người không sợ đối đầu và xung đột.

Chiến dịch nói chung sẽ được lợi nếu có sự hiện diện của tất cả bốn vai trò kể trên, vì sự kết hợp đó sẽ ngăn được tính chất phiến diện và nguy cơ các nhà vận động  tạo ra một “dàn đồng ca” chỉ tự nói, tự nghe mà không đạt được tiềm năng của nó. Bốn vai trò này sẽ cùng nhau tạo ra sự năng động và sắc bén, giúp phát triển, đào tạo ra các nhà hoạt động chuyên nghiệp trong tương lai.

So với các cuộc biểu tình, các chiến dịch thu được lợi ích nhiều hơn từ việc đào tạo, và việc đào tạo sẽ giúp các nhà hoạt động phát triển về lâu về dài. Việc đào tạo sẽ gắn kết các thành viên mới tham gia và đáp ứng những nhu cầu cụ thể, như khắc phục các rào cản về chủng tộc, giai cấp và giới tính. Việc đào tạo làm tăng hiệu quả và tốc độ tiếp thu kiến thức, kỹ năng, vốn là điều cần thiết cho các chiến dịch để giành chiến thắng và cũng để phát triển đội ngũ lãnh đạo cho tương lai.

Liệu các chiến dịch có thể tạo ra được những phong trào có khả năng áp đặt một sự thay đổi, chuyển dịch về quyền lực?

Khi nghiên cứu về bốn quốc gia để tìm tư liệu cho cuốn sách mới, với tựa đề “Viking Economics” của tôi, tôi nhận thấy rằng các phong trào – áp đặt thành công sự chuyển dịch về quyền lực – đã được tạo ra từ các chiến dịch. Chẳng hạn, ở Na Uy vào những năm 1920 và 1930, các chiến dịch tiến hành bởi giới công nhân và các hộ nông dân, được ủng hộ bởi các đồng minh từ tầng lớp trung lưu, đã tạo ra một phong trào đa số, từ đó buộc giới chóp bu kinh tế phải từ bỏ vị trí thống trị của mình trong việc chỉ đạo, định hướng nền kinh tế. Phong trào phi bạo lực này, thông qua sức mạnh làm rối loạn các hoạt động kinh tế, đã làm việc quản lý quốc gia bị gián đoạn, và từ đó buộc giới chóp bu (1% ) phải từ bỏ vị trí lũng đoạn của mình.

Sự thay đổi quyền lực này đã mở ra không gian để tạo nên cái mà các nhà kinh tế gọi là “mô hình Bắc Âu”, một nền kinh tế hầu như  đã xóa bỏ đói nghèo và thúc đẩy tự do cá nhân và bình đẳng lên mức độ chưa từng có trong lịch sử – trước khi Na Uy tìm ra dầu mỏ. Ba quốc gia khác mà tôi mô tả trong cuốn sách của mình– là Thụy Điển, Ai-len và Đan Mạch – tuy không có dầu mỏ nhưng lại luôn dẫn đầu, suốt nhiều thập kỷ qua, về mức độ công bằng và bình đẳng về của cải trên thang đo quốc tế.

Các chiến dịch có khả năng và trên thực tế là có tạo ra những phong trào với sức mạnh hết sức to lớn. Cơ sở dữ liệu trên web Global Nonviolent Action Database có cung cấp thông tin về hơn 1,100 chiến dịch, tiến hành bởi những con người đến từ nhiều nền văn hóa, bối cảnh xã hội và mục tiêu khác nhau. Nước Mỹ cũng có những di sản của riêng mình về các chiến dịch mạnh mẽ và những kỹ năng, những bài học xương máu. Đã đến lúc chúng ta phải chấm dứt  những cuộc biểu tình theo kiểu “phát một”, và tiếp tục bước tới để dành được những chiến thắng, mà từ đó, tạo nền móng cho một cuộc cách mạng lớn, thay đổi lịch sử.


George Lakey là nhà đồng sáng lập Earth Quaker Action Group, một tổ chức vừa giành thắng lợi trong một chiến dịch kéo dài suốt năm năm, nhằm buộc một ngân hàng lớn của Mỹ phải từ bỏ cung cấp tài chính cho việc khai thác than trên đỉnh núi. Cùng với việc giảng dạy đại học, ông đã tổ chức 1,500 hội thảo trên khắp thế giới và dẫn dắt  các dự án hoạt động ở các cấp địa phương, quốc gia và quốc tế. Ông là tác giả của rất nhiều cuốn sách và bài báo, trong đó có "Strategizing for a Living Revolution” [Hoạch định chiến lược cho một cuộc cách mạng thành công], nằm trong cuốn sách Globalize Liberation [Toàn cầu hóa công cuộc giải phóng] của David Solnit (City Lights, 2004). Ông bị bắt giữ lần đầu trong một buổi tọa kháng đòi quyền dân sự, và gần đây nhất là cùng với nhóm Earth Quaker Action trong khi đang phản đối việc khai thác than trên đỉnh núi.

 

Comments

comments