Thẩm vấn: (Phần 4) – Các kỹ thuật thẩm vấn tiếp theo

Ảnh trong phim The Interrogation

Có nhiều phương pháp thẩm vấn trong thực tế để phục vụ cho điều tra pháp lý trong dân sự, hình sự và trong quân đội. Người thẩm vấn chuyên nghiệp được đào tạo và làm chủ các kỹ thuật thẩm vấn phục vụ cho công việc của họ. Chúng có thể là các kỹ thuật tâm lý hoặc là các thủ thuật cực đoan. Biết được các kiến thức này sẽ giúp những người có nguy cơ bị thẩm vấn không bị động do hiểu rõ diễn biến và chủ động tìm ra các phương pháp phản thẩm vấn phù hợp.

Phần trước: Thẩm vấn: (Phần 3) – Các kỹ thuật thẩm vấn

9. Sử dụng máy dò nói dối

Có một vài loại máy có khả năng phát hiện ra người đang nói dối dựa trên nguyên tắc nhận diện sự lo lắng. Khi chúng ta căng thẳng, cơ thể sẽ phát ra những tín hiệu sinh lý, có thể đo lường được bằng các thiết bị khác nhau. Ví dụ:

Máy đo nhịp tim: Đây là thiết bị phổ biến nhất dùng để đo sự thay đổi nhịp tim, huyết áp, cộng với hoạt động của tuyến mồ hôi. Đây là những thông số cho thấy sự kích thích vô thức của hệ thần kinh liên quan đến cảm giác căng thẳng khi nói dối. Chiếc máy này có ý tưởng là khi một người được hỏi một loạt các câu hỏi và nói dối, cơ thể của họ sẽ xuất hiện những thay đổi vô thức và chiếc máy có thể phát hiện ra điều đó.

Máy phân tích căng thẳng bằng giọng nói trên máy vi tính (CVSA), đo các rung động rất rất nhỏ của âm thanh có liên quan đến cảm giác căng thẳng.

Pupillometrics: Đây là một phương pháp đo tốc độ nhấp nháy và giãn nở hoặc co thắt của đồng tử mắt. Việc này có thể được thực hiện với các bản ghi video và phân tích cẩn thận.

“Phát hiện nói dối” là một thuật ngữ phổ biến nhưng không thực sự chính xác. Công việc mà các máy phát hiện nói dối làm là đo phản ứng của cơ thể. Kỹ năng thực sự cần trong việc này là đặt câu hỏi và diễn giải kết quả.

Dấu hiệu căng thằng có thể xuất hiện ở tất cả mọi người khi bị thẩm vấn, đó là lý do tại sao người thẩm vấn sẽ hỏi một người một loạt câu hỏi mà kết quả đúng hay sai là điều hiển nhiên để tạo các thông tin và phản ứng đầu vào cho máy nói dối.

Các máy phát hiện nói dối giả cũng có thể được sử dụng, người thẩm vấn có thể đặt tay của một người lên một chiếc máy phô tô và nói rằng đây là một chiếc máy phát hiện nói dối.

Con người thực sự là một chiếc máy phát hiện nói dối tốt. Một người được đào tạo có thể phát hiện nhiều lời nói dối bằng cách quan sát ngôn ngữ cơ thể. Việc che đậy một số dấu hiệu của việc nói dối là khả thi, nhưng không ai có thể kiểm soát tất cả các biểu hiện của cơ thể.

10.Tin tức

Người thẩm vấn sẽ mang đến một vài tin tức hỗ trợ lập luận của họ trong một vài trường hợp. Những tin tức này có thể được cắt xén, chỉnh sửa hoặc hoàn toàn sai sự thật. Chúng có thể là những tờ báo giả mạo, các bản tin giả mạo trên đài, hoặc tivi. Những thông tin này có thể dẫn dắt người thẩm vấn cung cấp các thông tin mà họ đang cố che giấu.

Người thẩm vấn cũng có thể để người đang bị thẩm vấn viết thư, nói chuyện với người thân, hoặc bạn bè hoặc một lính gác thân thiện, sau đó lén chặn lấy các nguồn tin này và đưa ra các phản hồi giả mạo, chẳng hạn như một bức thư trả lời giả mạo…

Người thẩm vấn cũng có thể cho phép đối phương nhìn thấy một vài sự kiện, ví dụ như dắt họ đi qua một căn phòng nơi một người đồng mưu khác đang bị thẩm vấn, đang kí một giấy tờ nào đó, hoặc đang được đối xử rất tốt.

Khi một người đang trong quá trình cách ly để được thẩm vấn, họ thèm khát được liên lạc với thế giới bên ngoài, họ sẽ nhận lấy bất cứ tin tức nào và dễ dàng tin vào nó. Và khi một người được cung cấp một phần của tin tức, họ sẽ vô thức tự động hoàn thiện phần còn lại- và thường là theo cách bi quan.

11. Không ai quan tâm cả

Người thẩm vấn sẽ khiến cho người bị thẩm vấn tin rằng không ai còn quan tâm đến họ bằng cách giấu thư từ, chặn cuộc gọi. Người thẩm vấn nói với người bị thẩm vấn vấn rằng bạn bè đã bỏ rơi họ và rằng không một ai cố gắng để giải cứu họ cả.

Họ nói với người đang bị thẩm vấn rằng, đồng phạm của họ đã bị bắt và phản bội họ. Thậm chí người thẩm vấn còn có thể sử dụng các thông tin họ có sẵn để làm cho mọi việc giống như thật.

Sau khi đã khiến đối phương tin rằng họ bị bỏ rơi, người thẩm vấn sẽ thực hiện một trong hai chiến thuật sau. Hoặc là họ sẽ trở thành người bạn duy nhất trên thế giới hướng dẫn người bị thẩm vấn nên làm gì. Hoặc họ sẽ trở thành một người thẩm vấn nghiêm khắc sẵn sàng đặt mọi áp lực lên đối thủ để đạt được mục đích.

Ví dụ:

– Anh có hai anh em phải không? Tôi đã nghĩ họ sẽ hỏi về anh, nhưng không ai gọi cả. Có vẻ như họ biết anh đang gặp rắc rối và đã bỏ rơi anh rồi.

-Tại sao anh phải cố bảo vệ họ? Họ đã nói với chúng tôi rằng anh đã làm tất cả mọi việc.

12. Chỉ có một lựa chọn

Thẩm vấn

Người thẩm vấn sẽ nói rằng người bị thẩm vấn chỉ có một con đường duy nhât là hợp tác và cung cấp thông tin.

Họ sẽ khiến cho người bị thẩm vấn tin rằng không có cách nào khác ngoài việc tiết lộ thông tin. Nhưng họ cũng không quên làm cho người thẩm vấn cảm thấy thoải mái trong việc khai ra các thông tin bằng việc thể hiện sự tôn trọng và chỉ ra đây không những là việc cần thiết mà còn là việc đáng được hoan nghênh.

Kỹ thuật này chỉ được sử dụng khi người bị thẩm vấn đang tuyệt vọng và không thể đối mặt với những những gì có thể xảy ra tiếp theo. Họ phải tin rằng sự trừng phạt, nhục mạ và sự không khoan dung đang chờ đón họ và họ không có lựa chọn nào khác. Khi một người phải  đối mặt với tự thú hay là sự tuyệt vọng, hầu hết mọi người sẽ chọn tự thú.

12. Buộc thêm tội

Người thẩm vấn sẽ đưa ra các cáo buộc nặng hơn những gì mà người đang bị thẩm vấn đã thực sự làm. Điều này có thể bao gồm cả những việc một ai đó đã làm hoặc những thứ không hề có thật. Người thẩm vấn sẽ cố làm cho những cáo buộc trông có vẻ đáng tin bằng cách phóng đại những gì đã thực sự xảy ra: thiệt hại tồi tệ hơn, giá trị lớn hơn. Họ cũng thế có thể cáo buộc người bị thẩm vấn đã gây ra một việc sai trái ở một nơi khác để buộc đối phương thừa nhận họ thực sự ở đâu.

Người thẩm vấn sẽ quan sát ngôn ngữ cơ thể của người đang được thẩm vấn để tìm các dấu hiệu thể hiện họ biết điều gì đã thực sự xảy ra, ví dụ như sự ngạc nhiên, sợ hãi, bực bội hay vui mừng. Và dĩ nhiên họ sẽ để thời gian cho người bị thẩm vấn  sửa lại những thông tin sai.

Ví dụ:

Một người bị bắt vì bị tình nghi là trộm. Khi anh ta được cho biết rằng đồ trang sức có giá trị đã bị đánh cắp (điều đó không đúng), một cái nhìn bất ngờ lóe lên trong giây lát trên mặt anh ta, mặc dù anh ta vẫn phủ nhận tội. Người thẩm vấn hỏi anh ra rằng Làm thế nào anh biết là không có đồ trang sức nào đã bị đánh cắp trong vụ này?

Khi một người bị cáo buộc đã làm một điều gì đó, mà điều này thực ra là không hề có. Nếu người đó vô tội, họ sẽ cảm thấy không vui vì điều này không đúng. Nếu người đó có tội, việc bị cáo cuộc sẽ tạo ra một vài ảnh hưởng, ví dụ như:

– Một cái nhìn khó chịu bởi vì họ cảm thấy đối phương đang cố kéo họ vào một rắc rối lớn hơn những gì họ thực sự đã làm

– Một thoáng sợ hãi vì họ nghĩ họ đang bị bủa vây

– Cười nhẹ vì cảm giác nhẹ nhõm khi đối phương dường như đã có thông tin sai

– Sửa lại những thông tin sai và nói với đối phương rằng những sự phóng đại đó không hề xảy ra hoặc hoàn toàn sai

– Thừa nhận những gì họ đã thực sự làm và từ chối những thứ được thêm thắt

13. Hỏi liên tục

Người thẩm vấn sẽ hỏi rất nhiều câu hỏi nhanh, câu nọ tiếp ngay sau câu kia. Về cơ bản có 2 cách thực hiện kỹ thuật này:

Cách thứ nhất: Họ sẽ hỏi người bị thẩm vấn  một loạt câu hỏi một lúc, trước khi đối phương có cơ hội trả lời câu đầu tiên

Cách thứ hai: Hỏi ngay các câu tiếp theo trước khi đối phương kịp kết thúc việc trả lời một câu hỏi trước đó.

Bất cứ khi nào người bị thẩm vấn ngập ngừng hoặc trì hoãn, người thẩm vấn sẽ thúc giục họ. Các câu hỏi thường trực tiếp và quyết đoán.

Ví dụ: Anh đã ở đâu vào Thứ Bảy lúc 9 giờ tối? Anh đang làm gì vậy? Có ai khác ở đó? Anh đã thấy ai? … Nào, trả lời đi !!!

Khi một người nói dối, họ thường cần thời gian để nghĩ về câu trả lời và kiểm tra sự nhất quán với các câu trả lời trong quá khứ. Việc hỏi liên tục khiến cho đối phương có rất ít thời gian để làm việc này và vì vậy nhiều khả năng họ sẽ mắc lỗi hoặc đưa ra các thông tin không nhất quán.

Mặt khác, khi một người bị cản trở trả lời câu hỏi, nhu cầu được hoàn thiện, giải thích cho câu trả lời của họ sẽ bị ảnh hưởng. Điều này làm gia tăng sự căng thẳng.

Dưới áp lực của sự căng thẳng cao độ, mọi người thường có xu hướng tìm kiếm một sự giải tỏa bằng cách chuyển sự tập trung trong việc đưa ra một câu trả lời tốt nhất thành tìm cách giảm căng thẳng. Các câu hỏi nối tiếp không ngừng làm tăng mức độ căng thẳng thông qua tăng gánh nặng về nhận thức và áp lực về cảm xúc.

14. Im lặng

Người thẩm vấn sẽ chỉ ngồi, giữ im lặng một cách bị động hoặc trong bầu không khí đầy cảm thông và chờ đợi người bị thẩm vấn tự thú.

Kỹ thuật này cũng có thể được sử dụng với sự hung dữ, chẳng hạn như nhìn thẳng vào mắt đối phương. Trong trường hợp này cuộc thi ai nhìn chằm chằm lâu hơn sẽ bắt đầu. Cách để chiến thắng trong cuộc thi này là thay vì nhìn vào mắt đối phương, hãy nhìn vào phần mũi giữa 2 mắt.

Ví dụ: Sau một thời gian căng thẳng thẩm vấn, mà nghi phạm không tiết lộ điều gì, người thẩm vấn ngồi im lặn, nhìn chằm chằm vào đối tượng và thi thoảng nhướn mày nhẹ nếu chủ thể trông giống như định nói điều gì.

Nhiều người trong chúng ta không quen với việc im lặng trong một cuộc nói chuyện và thường cảm thấy căng thẳng, có nhu cầu phải nói điều gì đó. Điều này có thể dẫn chúng ta đến việc sẽ nói ra điều gì đó chỉ để lấp đầy khoảng trống.

Một cái nhìn hung dữ có thể vẽ nên chân dung của một người hung hăng trong trận chiến nhìn chằm chằm. Nếu người thẩm vấn thắng, họ sẽ khiến cho người bị thẩm vấn có cảm giác bị đánh bại. Điều này khiến cho họ ở thế trên cơ để hỏi nhiều câu hỏi hơn và đối phương sẽ cảm giác rằng họ có nghĩa vụ phải trả lời.

15. Người trợ giúp im lặng

Trong phòng thẩm vấn, sẽ có một người ngồi im lặng, ghi chép và quan sát. Người này sẽ không tương tác trực tiếp, thậm chí sẽ cười và gửi các tín hiệu tích cực không lời đến người bị thẩm vấn. Nếu người bị thẩm vấn bắt đầu đưa ra nhiều thông tin chi tiết hơn sau những khuyến khích ngầm, họ có nhiều khả năng nói thật. Trong khi đó, nếu người bị thẩm vấn thận trọng và đưa ra ít thông tin hơn, họ có nhiều khả năng nói dối.

Ví dụ:

Một nghi can đang được một cảnh sát thẩm vấn về nơi họ ở vào một đêm cụ thể. Một viên công an khác đóng vai một người quan sát nhẹ nhàng gật đầu và mỉm cười. Nghi can đầu tiên tỏ ra thư giãn và thêm chi tiết hơn vào câu chuyện của mình. Điều này cho thấy nghi can này dường như đang nói sự thật. Một nghi can khác không phản ứng, tiếp tục ngồi trên ghế của họ với chân vắt chéo. Chú ý nhiều hơn đến nghi can này trong việc tiết lộ sự thật về tội lỗi của họ.

Trong sách Mann et al (2013), một thử nghiệm thẩm vấn sự thật hay dối trá thấy rằng khi một người thầm lặng hành động một cách thân thiện bằng việc mỉm cười, gật đầu… thì các đối tượng trung thực sẽ cởi mở và cung cấp thông tin nhiều hơn, chi tiết hơn; trong khi kẻ nói dối sẽ không được khuyến khích theo cách này vì họ đang duy trì sự cảnh giác và thận trọng.

Phương pháp này dường như là một biến thể đối với “cảnh sát tốt, cảnh sát xấu”, nhưng ở dạng tinh tế hơn, ít bị các chú ý hơn. Điều này khiến cho kỹ thuật này trở thành một phương pháp hữu ích, ít bị phát hiện bởi những người bị thẩm vấn.

Tuy nhiên, phương pháp này không dẫn đến một lời thú nhận hoặc bổ sung thêm thông tin, nhưng ít nhất nó giúp thu hẹp phạm vi nghi phạm.

16. Kể chuyện ngược xuôi

Người thẩm vấn sẽ yêu cầu người bị thẩm vấn kể chuyện của họ theo trình tự từ đầu đến cuối, sau đó theo hướng ngược lại từ lúc kết thúc đến khi bắt đầu. Họ cũng không quên theo dõi phản ứng cơ thể của người bị thẩm vấn và tìm kiếm các dấu hiệu không thoải mái hoặc vật lộn để làm mọi thứ đúng. Họ sẽ chú ý đặc biệt đến những sự ngắc ngứ bởi vì những người nói dối thường có gắng kể chuyện trôi chảy.

Nguồn ảnh: https://www.stuffyoushouldknow.com

Ví dụ:

Cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra? Vì vậy, cuối cùng anh đã giữ cái túi đó? Anh có nhớ ai đã đưa nó cho anh không?Chuyện gì đã xảy ra trước đó?-Và điều gì đã gây ra điều đó?Cô ta đã nói gì trước đó?

Những người nói thật xây dựng câu chuyện của họ với mô típ tuyến tính, thẳng như một dòng sông, đơn giản và theo một hướng nhất định. Các trải nghiệm được lưu trữ trong trí nhớ và các phần khác nhau có thể được truy cập và nhớ lại nhanh chóng. Việc kể chuyện theo hướng ngược dòng thời gian khá dễ dàng đối với những người trung thực khi họ bỏ qua trình tự thời gian và dễ dàng nhớ lại các kí ức thực.

Những người nói dối có nhiều việc hơn để làm khi họ phải kể một câu chuyện ngược xuôi vì họ phải nhớ lại các dữ kiện không thật.

Vì vậy phương pháp này khá phổ biến khi cảnh sát cần tìm ra các thông tin thật.

17. Cảm thông

Người thẩm vấn sẽ thể hiện sự đồng cảm với người bị thẩm vấn và hoàn cảnh họ đang mắc phải bằng cách nói rằng những gì đối phương đã làm là hợp pháp hoặc cung cấp cho họ những lập luận họ có thể dùng để bào chữa cho bản thân.

Ví dụ:

Anh Hiếu, tôi hoàn toàn hiểu tại sao anh làm như vậy. Tôi đã nhiều lần ở trong hoàn cảnh tương tự anh và muốn làm điều tương tự.

Anh chỉ đang làm công việc của anh, tôi biết chứ. Nó không thực sự tốt lắm, nhưng có ai đó phải làm điều đó chứ, đúng không?

Người thẩm vấn thường đóng vai một người bạn đầy quan tâm để moi tin tức từ người bị thẩm vấn. Đây là một cách tiếp cận mềm mỏng nhưng hiệu quả để lấy được thông tin và sự thú tội.

Sự cảm thông cũng có thể được sử dụng đan xen với các áp lực cao độ, được thực hiện bởi một người thẩm vấn khác.

18. Chuyển đổi sự thật

Người thẩm vấn sẽ bắt đầu bằng những câu hỏi dễ (được hiểu là những câu hỏi có thể thoải mái cung cấp các thông tin thật), sau đó họ sẽ chuyển đổi sang các câu hỏi khóa hơn (được hiểu là những câu hỏi khiến đối phương sẽ nói dối). Sau đó, tiếp tục công việc chuyển đổi giữa việc hỏi các câu khó và dễ đan xen.

Khi hỏi, người thẩm vấn sẽ quan sát sự thay đổi cơ thể của đối phương và chú ý cách cơ thể họ thay đổi khi họ nói dối. Chỉ khi nào người thẩm vấn tìm ra được dấu hiệu nói dối này, họ sẽ tung ra các câu hỏi quan trọng để xem đối phương có nói dối không?

Người thẩm vấn sẽ cố gắng đưa ra các câu hỏi ở mức độ căng thẳng hợp lý để tìm sự khác biệt giữa ngôn ngữ cơ thể khi căng thẳng và ngôn ngữ cơ thể khi nói dối.

Ví dụ:

Anh có thích bóng đá không? Anh có nghĩ là đội A chơi tốt tối qua không? Anh có phải là người đáng tin không? Nếu anh nhặt được một cái túi với đầy tiền trên đường, anh có giữ nó không? Anh có thích cà phê không? Anh có thích bỏ đường vào cà phê không? Anh có muốn một cốc cà phê bây giờ không? Anh sống ở đâu? Anh đã ở quán B vào lúc 10h tối thứ sáu đúng không?

Khi một người nói dối, họ thay đổi những dấu hiệu không lời đặc trưng, chẳng hạn như chạm vào mặt hoặc phát âm sai một lỗi nhỏ. Nhưng những người nói dối giỏi có thể che đậy được các biểu hiện đặc trưng này bằng bản năng hoặc thông qua luyện tập.

Tài liệu tham khảo: Interrogation

Nguồn ảnh bìa: http://www.beautypendence.com

Bài tiếp theo: Thẩm vấn: (Phần 5) – Các câu hỏi dùng để thẩm vấn

Comments

comments