Hiều về tự do biểu đạt căn bản: (Phần 3) Giới hạn của tự do biểu đạt?

Tự do biểu đạt đôi khi có xung đột với các giá trị và các quyền khác. Ví dụ ở nhiều quốc gia, các phát ngôn thù hận phân biệt chủng tộc bị cấm, vì sự hòa hợp chủng tộc và nhằm bảo vệ các sắc dân thiểu số thì được coi là mục tiêu quan trọng hơn một sự khoan dung tối đa cho tự do biểu đạt.

Tương tự như vậy, những phán quyết trong một số hoàn cảnh tương tự cũng được tạo ra để ngăn chặn một phần tự do biểu đạt, chẳng hạn như việc cấm quảng cáo thuốc lá và các chất gây nghiện nguy hiểm đã bị cấm, mặc dù nhiều người có thể cho rằng các sản phẩm này hoàn toàn lành mạnh.

Quyền tự do biểu đạt toàn diện sẽ tạo điều kiện cho sự tự do vu khống, tự do lừa mị và chỉ dẫn sai lạc trong quảng cáo, tự do xuất bản các tài liệu tình dục liên quan đến trẻ em, tự do tiết lộ các bí mật quốc gia, v.v..

Thẩm phán Oliver Wendell Holmes (1841-1935) là thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ suốt ba thập niên từ 1902 đến 1932. Ông có nêu một nhận xét đáng chú ý về quyền tự do biểu đạt là quyền này không bao gồm việc tự do hô hoán “Cháy!” trong một rạp chiếu phim đông người. Điều ông muốn nói ở đây là những người biện hộ cho tự do biểu đạt cần phải vạch ra một giới hạn nào đó. Hàm nghĩa của từ “tự do” có sức mạnh biểu cảm khiến người ta có thể không ý thức được giới hạn. Nếu cho phép ai đó có quyền hô hoán “cháy” trong một rạp hát đông người có thể gây ra cảnh hoảng loạn giẫm đạp gây thương tích hay thậm chí gây chết người, và trò đùa này cũng có thể khiến cho các khán giả trở nên thờ ơ với tiếng hô “cháy” thực sự. Quan điểm của thẩm phán Holmes là: Khi bạn tạo ra một mối “nguy hiểm rõ ràng” cho người khác thông qua biểu đạt của bạn, biểu đạt đó không được bảo vệ.

Cũng phải nói thêm rằng, giới hạn tự do biểu đạt đối với các quốc gia khác nhau có nhiều khác biệt do vấn đề về văn hóa, chính trị. Tuy nhiên nguyên tắc về hạn chế cũng như cách thức hạn chế đã được luật hóa thông qua Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị và hướng dẫn bởi Bình luận của Ủy ban Nhân Quyền. Các quốc gia đã kí kết và thông qua Công ước này phải đảm bảo thực thi theo chuẩn mực quốc tế này để tránh tình trạng đàn áp tự do.

Dưới đây là hai nguyên tắc cơ bản cho các lập luận về hạn chế tự do biểu đạt.

1. Nguyên tắc gây tổn hại (Harm principle)

Triết gia John Stuart Mill là người bảo vệ nồng nhiệt cho tự do biểu đạt. Tuy nhiên ông cho rằng nên có một số giới hạn cho quyền này để điều chỉnh hành vi của các thành viên trong một cộng đồng chính trị. Giới hạn ông đặt ra được gọi là: “một nguyên tắc rất đơn giản”, ngày nay thường được gọi là nguyên tắc gây hại: “thứ nhất, cá nhân không chịu trách nhiệm với xã hội các hành động của anh ta, trong trừng mực mà chúng không liên quan đến lợi ích của ai khác ngoài anh ta”; và “thứ hai, đối với các hành động gây tổn hại tới lợi ích của người khác, cá nhân phải chịu trách nhiệm, và có thể chịu sự trừng phạt của xã hội hoặc luật pháp, nếu xã hội thấy điều đó là cần thiết để bảo vệ nó”.

Mill phân biệt giữa tác hại hợp pháp và bất hợp pháp và cho rằng chỉ khi nào biểu đạt gây ra tác hại trực tiếp và bạo lực rõ ràng, nó mới lên được giới hạn.

Nếu chúng ta thấy lập luận của Mill là hợp lý, chúng ta cần phải đặt ra câu hỏi loại biểu đạt nào có thể gây hại? Trả lời được câu hỏi này, chúng ta đã tìm ra được giới hạn thích hợp của tự do biểu đạt. Nhưng đây là một nhiệm vụ không hề dễ dàng và gây nhiều tranh cãi. Có những trường hợp khi nguyên tắc gây hại đã được viện dẫn nhưng ở đó khó có thể chứng minh rằng nó đã gây hại.

Chúng ta sẽ phân tích 3 trường hợp dưới đây để thấy nguyên tắc gây tổn hại đã được sử dụng như thế nào:

Ngôn từ kích động, thù địch

Hầu hết các nền dân chủ tự do đều có những hạn chế về ngôn từ kích động thù địch, nhưng điều gây tranh cãi là liệu những nguyên tắc này có thể được biện minh bằng nguyên tắc gây hại được xây dựng bởi Mill hay không. Bởi vì để sử dụng nguyên tắc này người ta phải chứng minh rằng biểu đạt đó vi phạm quyền một cách trực tiếp.

Ví dụ vào năm 2001, một Tòa án ở Anh đã phạt nhà truyền giáo Harry Hammond 300 bảng Anh; buộc anh nộp 395 bảng Anh án phí và phá hủy banner biểu tình với cáo buộc vi phạm trật tự công cộng vì những lời tuyên bố sau: “Thiên Chúa trao hòa bình, Thiên Chúa vẫn tồn sinh. Hãy ngưng thói vô đạo đức. Hãy ngưng đồng tính luyến ái. Hãy ngưng thói đồng dục nữ. Thiên Chúa là Vua” được dương lên ở quảng trường The Square. Cuộc biểu tình đã thu hút một đám đông khoảng 40 người đầy tức giận vì cảm thấy bị xúc phạm, thậm chí họ đã có hành vi tấn công ông Hammond.

Các thẩm phán trong thủ tục kháng cáo cho rằng những lời lẽ của ông đã gây xúc phạm và đau khổ cho những người có mặt và ông Hammond có nhận thức được thức tế đó. Vì vậy các thẩm phán phán quyết rằng hành vi của ông đã vượt quá quyền biểu tình hợp pháp cũng như quyền tự do ngôn luận theo Công ước châu Âu về nhân quyền.

Nội dung khiêu dâm

Tại nhiều quốc gia, nội dung khiêu dâm, các hoạt động trong ngành giải trí tình dục bị cấm, các trang mạng cung cấp phim ảnh về tình dục bị cấm truy cập… dựa trên nguyên tắc gây hại chẳng hạn như quyền của phụ nữ tham gia vào ngành công nghiệp tinh dục bị xâm phạm, người xem các nội dung khiêu dâm có thể phạm các tội ác tình dục hoặc bạo lực.

Khi nội dung khiêu dâm liên quan đến trẻ em, hầu hết mọi người đều đồng ý rằng nó nên được cấm vì nó gây hại cho những người dưới độ tuổi cho phép. Việc gây hại khó chứng minh hơn với người lớn ở độ tuổi cho phép. Thật khó để biết nếu những người xuất hiện trong sách, tạp chí, phim ảnh, video và trên internet đang bị tổn hại về thể chất. Lý do là, bạn hãy thử so sánh các hình thức làm việc có hại khác mà không bị cấm, chẳng hạn như lao động thủ công nặng nhọc, hoặc các công việc rất nguy hiểm khác.

Nếu các phim khiêu dâm làm tăng tỉ lệ bạo lực và hãm hiếp, thì nên cấm cả các bộ phim mô tả vụ giết người vì chúng có khả năng chủ động kích động khán giả bắt chước những gì họ thấy trên màn hình. Nếu nội dung khiêu dâm gây ra một tỷ lệ nhỏ nam giới hành động bạo lực, thì tại sao quyền tự do của tất cả người tiêu dùng khiêu dâm (nam và nữ) phải bị cắt giảm vì hành động bạo lực của một số người. Ngoài ra rất nhiều nghiên cứu cho thấy uống rượu gây ra rất nhiều bạo lực (chống lại phụ nữ và nam giới) nhưng điều này không có nghĩa là rượu nên bị cấm.

Các câu hỏi khác cần được trả lời trước khi lệnh cấm được biện minh là:

Có bao nhiêu người bị hại?

– Tần suất gây hại là gì?

– Việc kiểm duyệt có gây ra vấn đề lớn hơn tác hại mà tự do biểu đạt có thể gây ra không?

– Các tác động có hại có thể được ngăn chặn bằng các biện pháp khác hơn là cấm không?

Fake news

Các thông tin giả mạo, sai sự thật đã có từ lâu, nhưng trong thời đại internet, các thông tin này xuất hiện ngày càng nhiều và khó kiểm soát, gây hại cho chủ thể liên quan bất kì. Tin tức giả mạo dường như được mệnh danh là một chủ đề thịnh hành vào năm 2018. Một số quốc gia đã báo hiệu kế hoạch của họ về việc đưa ra luật mới nhằm vào vấn đề này. Các công ty công nghệ được cho là đang áp dụng các biện pháp để giải quyết “tin tức giả” trên nền tảng của họ. Tuy nhiên, đây chính là mối đe doạ cho tự do biểu đạt bởi viễn cảnh của thông tin do nhà nước kiểm soát, hoặc phân loại chọn lọc.

Truyền thông xã hội và internet đang đóng vai trò quan trọng như một nền tảng cho các hoạt động bất đồng chính kiến, nơi mà mọi người đều có thể đưa tin, bình luận và trở thành các nhà báo công dân.Tuy nhiên nhiều chính quyền sử dụng quyền lực của mình để định nghĩa, xác nhận tin tức giả và tìm cách kiểm duyệt tin tức tùy tiện. Chẳng hạn như Facebook thừa nhận đã cam kết với chính phủ Việt Nam để gỡ bỏ nội dung sai sự thật hoặc cung cấp thông tin về các tài khoản, phục vụ cho điều tra hình sự. Tuy nhiên, động thái này bị chỉ trích như một hình thức kiểm duyệt thông tin bất lợi cho chính phủ.

Câu hỏi đặt ra là Tin tức giả là gì và ai sẽ định nghĩa nó trong môi trường internet ngày nay? Đâu là mức độ gây hại của một tin tức giả? Và có cách nào ngăn chặn tác hại của nó thay vì hạn chế tự do biểu đạt hay không?

2. Nguyên tắc xúc phạm (Offense principle)

Có nhiều ý kiến cho rằng nguyên tắc gây tổn hại đã không thực sự hiệu quả. Một trong những lập luận ấn tượng nhất cho quan điểm này là từ Joel Feinberg, một nhà triết học chính trị và pháp lý Hoa Kỳ, người cho rằng nguyên tắc gây hại không thể gánh vác tất cả công việc cần thiết cho một nguyên tắc tự do biểu đạt. Feinberg cho rằng, chúng ta cũng cần một nguyên tắc xúc phạm có thể hướng dẫn sự kiểm duyệt.

Ý tưởng cơ bản là: nguyên tắc gây hại đặt tiêu chuẩn quá cao và chúng ta có thể cấm một số hình thức biểu đạt một cách hợp pháp vì chúng rất xúc phạm. Hành vi xúc phạm ít nghiêm trọng hơn việc làm hại, vì vậy không nên áp dụng hình phạt một cách quá nghiêm trọng.

Tuy nhiên thì nhiều quốc gia đã hình sự hóa và có các hình phạt rất nặng với các hành vi xúc phạm.

Chúng ta xem xét 2 trường hợp dưới đây cho nguyên tắc này:

Nội dung khiêu dâm

Nguyên tắc xúc phạm giúp chúng ta giải quyết vấn đề khiêu dâm như thế nào? Với các tiêu chí trên, Feinberg cho rằng sách không bao giờ nên bị cấm vì đây là tài liệu xúc phạm dễ tránh. Nếu một người không biết nội dung và có khả năng sẽ bị xúc phạm trong quá trình đọc văn bản, giải pháp đơn giản là gấp cuốn sách lại.

Tuy nhiên vấn đề trở nên phức tạp hơn đối với phim khiêu dâm. Bộ phim Pháp Baise-Moi đã bị cấm ở Úc vào năm 2002 vì nó được coi là tài liệu xúc phạm. Tuy nhiên, nguyên tắc xúc phạm sẽ không cho phép cấm như vậy bởi vì rất dễ để tránh bị xúc phạm bởi bộ phim. Cũng nên hợp pháp hóa cho việc quảng cáo phim, nhưng một số giới hạn có thể được đặt vào nội dung của quảng cáo để tài liệu khiêu dâm không được đặt trên biển quảng cáo ở nơi công cộng (vì không dễ dàng tránh được).

Phát ngôn gây thù ghét

Phát ngôn thù hận gây xúc phạm ghê gớm. Nạn nhân của những phát ngôn thù hận không dễ dàng tránh được nó giống như đối với các nội dung khiêu dâm.

Sự khác biệt giữa nội dung khiêu dâm bạo lực và ví dụ về ngôn từ kích động thù địch là: đối với ngôn từ kích động thù hận, một nhóm người cụ thể đã bị nhắm mục tiêu và thông điệp của sự căm thù đã được mô phỏng theo cách mà nó không thể dễ dàng tránh được.

Chính vì những lý do này mà Feinberg cho rằng phát ngôn gây thù ghét có thể bị giới hạn bởi nguyên tắc xúc phạm.

Rõ ràng, do đó, thành phần quan trọng của nguyên tắc vi phạm là liệu hành vi phạm tội có thể tránh được hay không. Nguyên tắc của Feinberg có nghĩa là nhiều hình thức ngôn từ kích động thù địch sẽ vẫn được cho phép nếu hành vi phạm tội có thể dễ dàng tránh được.

Nguồn tham khảo của bài viết

Sách Freedom of Speech (2007), tác giả Eric Barendt

Tài liệu về Tự do ngôn luận của American bar Association

Tự do ngôn luận  

Nguồn ảnh bìa:

https://tomroyreleased.wordpress.com

Comments

comments